Sửa đổi, bổ sung chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

(Chinhphu.vn) - Ngân hàng Nhà nước đang dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

 
 alt
 Ảnh minh họa - Internet

Dự thảo sửa đổi, bổ sung đối tượng vay vốn tại tổ chức tín dụng theo quy định tại Nghị định này là pháp nhân và cá nhân, bao gồm: a- Cá nhân cư trú trên địa bàn nông thôn hoặc có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; b- Chủ trang trại; c- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; d- Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn, ngoại trừ các đối tượng sau: doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp khai khoáng, các cơ sở sản xuất thủy điện, nhiệt điện và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp nằm trong khu công nghiệp, khu chế xuất; đ- Doanh nghiệp cung cấp vật tư nông nghiệp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và doanh nghiệp sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp.

Xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm

Dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định: Cá nhân, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm theo các mức như sau:

a- Tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân cư trú ngoài khu vực nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp (trừ trường hợp nêu tại các điểm c, d và đ);

b- Tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân cư trú tại địa bàn nông thôn; cá nhân cư trú ngoài khu vực nông thôn có tham gia liên kết trong sản xuất nông nghiệp với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp (trừ trường hợp nêu tại các điểm c, d và đ);

c- Tối đa 200 triệu đồng đối với cá nhân đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm;

d- Tối đa 300 triệu đồng đối với cá nhân là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc người đại diện của tổ hợp tác để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân hoặc tổ hợp tác đó;

đ- Tối đa 500 triệu đồng đối với cá nhân nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản xa bờ có ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với tổ chức chế biến và xuất khẩu trực tiếp;

e- Tối đa 01 tỷ đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp;

g- Tối đa 02 tỷ đồng đối với hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ phục vụ khai thác hải sản xa bờ; chủ trang trại nuôi trồng thủy sản; liên hiệp hợp tác xã hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp không bao gồm các đối tượng thuộc điểm h;

h- Tối đa 03 tỷ đồng đối với liên hiệp hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ phục vụ khai thác hải sản xa bờ.

Ngoài ra, tổ chức tín dụng được nhận tài sản hình thành từ vốn vay của dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của khách hàng theo quy định của pháp luật.

Tổ chức tín dụng và khách hàng tiếp tục thực hiện các nội dung trong hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm ký kết hợp đồng hoặc thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định tại Nghị định này.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây

Lưu Thủy

Bạn đang ở: Home Hệ thống văn bản Sửa đổi, bổ sung chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn