Mô hình phát triển HTX của các nước Châu Á, bài học cho phát triển HTX nông nghiệp ở Việt Nam

I. Kinh nghiệm phát triển HTX của các nước Châu Á

Kinh tế tập thể, trong đó kinh tế HTX đóng vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt, hiện nay, mô hình HTX đã trở thành lực lượng vững mạnh ở một số nước châu Á.

1. Nhật Bản

              Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, các HTX nông nghiệp Nhật Bản được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàn toàn quốc HTX nông nghiệp; Liên đoàn HTX nông nghiệp tỉnh; HTX nông nghiệp cơ sở.

Các HTX nông nghiệp cơ sở gồm hai loại: đơn chức năng và đa chức năng. Từ năm 1961 trở về trước các HTX đơn chức năng khá phổ biến. Nhưng từ năm 1961 trở về đây, do chính phủ Nhật Bản khuyến khích hợp nhất các HTX nông nghiệp nhỏ thành HTX nông nghiệp lớn, nên mô hình hoạt động chủ yếu của HTX nông nghiệp Nhật Bản hiện nay là đa chức năng. Các HTX nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân. Có thể thấy ưu nhược điểm của HTX nông nghiệp Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý và chức năng hoạt động của chúng.

          Các HTX nông nghiệp đa chức năng của Nhật bản thường đảm đương các nhiệm vụ sau:

             - Cung cấp dịch vụ hướng dẫn nhằm giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất. Thông qua các cố vấn của mình, các HTX nông nghiệp đã giúp nông dân trong việc lựa chọn chương trình phát triển nông nghiệp theo khu vực; lập chương trình sản xuất cho nông dân; thống nhất trong nông dân sử dụng nông cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến,… Các tổ chức Liên hiệp tỉnh và Trung ương thường quan tâm đào tạo bồi dưỡng cố vấn cho HTX nông nghiệp cơ sở.

             - Mục tiêu của HTX là giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất. Do đó, mặc dù các HTX nông nghiệp là đơn vị hạch toán lấy thu bù chi nhưng các HTX không đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà chủ yếu là trợ giúp nông dân. Các hình thức giao dịch giữa HTX với nông dân khá linh hoạt. Nông dân có thể ký gửi hàng hoá cho HTX, HTX sẽ thanh toán cho nông dân theo giá bán thực tế với một mức phí nhỏ; nông dân cũng có thể gửi HTX bán theo giá họ mong muốn và HTX lấy hoa hồng; thông thường nông dân ký gửi và thanh toán theo giá cả thống nhất và hợp lý của HTX.

             Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản do HTX tiêu thụ, HTX đã đề nghị nông dân sản xuất theo kế hoạch với chất lượng và tiêu chuẩn thống nhất với nhau và ưu tiên bán cho HTX. Về phần mình, HTX định tỷ lệ hoa hồng thấp. Các HTX tiêu thụ nông sản theo quy mô lớn, không chỉ ở chợ địa phương mà thông qua liên đoàn tiêu thụ trên toàn quốc với các khách hàng lớn như xí nghiệp, bệnh viện,… HTX đã mở rộng hệ thống phân phối hàng hoá khá tốt ở Nhật Bản.

             - HTX cung ứng hàng hoá cho xã viên theo đơn đặt hàng và theo giá thống nhất và hợp lý. Các HTX đã đạt đến trình độ cung cấp cho mọi xã viên trên toàn quốc hàng hoá theo giá cả như nhau, nhờ đó giúp cho những người ở các vùng xa xôi có thể có được hàng hoá mà không chịu cước phí quá đắt. Hàng tiêu dùng không cần đặt hàng theo kế hoạch trước. Thông thường các HTX nhận đơn đặt hàng của xã viên, tổng hợp và đặt cho liên hiệp HTX tỉnh, sau đó tỉnh đặt cho liên hiệp HTX toàn quốc. Đôi khi liên hiệp HTX nông nghiệp tỉnh hoặc HTX nông nghiệp cơ sở đặt hàng trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất. Nhìn chung các liên hiệp HTX nông nghiệp tỉnh và Trung ương không phải là cấp quản lý thuần tuý mà là các tổ chức kinh tế, các trung tâm phân phối và tiêu thụ hàng hoá.

             - HTX nông nghiệp cung cấp tín dụng cho các xã viên của mình và nhận tiền gửi của họ với lãi suất thấp. Các khoản vay có phân biệt: cho xã viên khó khăn vay với lãi suất thấp (có khi chính phủ trợ cấp cho HTX để bù vào phần lỗ do lãi suất cho vay thấp). HTX nông nghiệp cũng được phép sử dụng tiền gửi của xã viên để kinh doanh. Ở Nhật Bản có tổ chức một trung tâm ngân hàng HTX nông nghiệp để giúp các HTX quản lý số tín dụng cho tốt. Trung tâm này có thể được quyền cho các tổ chức kinh tế công nghiệp vay nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp.

             - HTX nông nghiệp còn sở hữu các phương tiện sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phương tiện này hiệu quả nhất, hạn chế sự chi phối của tư nhân. Các loại phương tiện thuộc sở hữu HTX thường là: Máy cày cỡ lớn, phân xưởng chế biến, máy bơn nước, máy phân loại, đóng gói nông sản. HTX trực tiếp quản lý việc sử dụng các tài sản này.

             - Các HTX còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị Chính phủ các chính sách hợp lý cũng như tương trợ lẫn nhau giữa các HTX và địa phương.

             - Ngoài ra, các HTX nông nghiệp Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm vụ giáo dục xã viên tinh thần HTX thông qua các tờ báo, phát thanh, hội nghị, đào tạo, tham quan ở cả ba cấp HTX nông nghiệp cơ sở, tỉnh và Trung ương.

             Như vậy, có thể thấy rằng HTX nông nghiệp Nhật Bản đã phát triển từ các đơn vị đơn năng đến ngày nay trở thành các đơn vị đa năng dịch vụ mọi mặt cho cho nhu cầu của nông dân và tổ chức liên kết qui mô lớn toàn quốc. Một nước công nghiệp hoá như Nhật Bản, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả vẫn là hộ gia đình, do đó HTX nông nghiệp, một mặt được thành lập để hỗ trợ nông dân, giúp cho họ vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa cải thiện cuộc sống ở nông thôn, mặt khác vẫn tôn trọng mô hình kinh tế nông hộ và chỉ thay thế hộ nông dân và tư thương ở khâu nào HTX tỏ ra có ưu thế hơn hẳn trong tương quan với mục tiêu hỗ trợ nông dân.

2. Ấn Độ 

Tổ chức HTX ra đời từ lâu và chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước này. Trong đó, Liên minh HTX Quốc gia Ấn Độ (NCUI) là tổ chức cao nhất, đại diện cho toàn bộ HTX ở Ấn Độ. NCUI có 212 thành viên, gồm 17 liên đoàn HTX chuyên ngành cấp quốc gia, 171 liên đoàn HTX thuộc các bang và 24 liên hiệp HTX đa chức năng cấp quốc gia. Mục tiêu chính của NCUI là hỗ trợ và phát triển phong trào HTX ở Ấn Độ, giáo dục và hướng dẫn nông dân cùng nhau xây dựng và phát triển HTX. Nhiệm vụ quan trọng của NCUI là công tác đào tạo với hệ thống đào tạo 3 cấp: Viện Đào tạo quốc gia có nhiệm vụ đào tạo và cấp bằng cao đẳng về quản lý kinh doanh HTX; Viện Đào tạo cấp bằng đào tạo và bằng trung cấp về quản lý, kinh doanh HTX; Trung tâm đào tạo cấp quận, huyện đào tạo cán bộ HTX cơ sở, đào tạo nghề. Do có các chính sách và phân cấp đào tạo hợp lý nên Ấn Độ đã có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, thúc đẩy khu vực kinh tế HTX phát triển, và mô hình HTX trở thành lực lượng vững mạnh, tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế của đất nước.

Là một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh tế của Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển nông nghiệp. Người nông dân coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch vụ. Khu vực HTX có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng, chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở với tổng số vốn hoạt động khoảng 18,33 tỷ USD. Những lĩnh vực hoạt động quan trọng của khu vực kinh tế HTX ở Ấn Độ đang nổi lên là HTX tín dụng nông nghiệp, có tỷ trọng chiếm tới 43% tổng số tín dụng trong cả nước, các HTX sản xuất đường chiếm tới 62,4% tổng sản lượng đường của cả nước, HTX sản xuất phân bón chiếm 34% tổng số phân bón của cả nước. Nổi bật là Liên hiệp HTX sản xuất sữa Amul, bang Gujaza, được thành lập từ năm 1953. Đây là một liên hiệp sản xuất sữa lớn nhất của Ấn Độ, và là một trong những liên hiệp HTX hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Sau gần 50 năm hoạt động, Liên hiệp này có gần 2 triệu cổ phần. Mỗi ngày, Liên hiệp sản xuất 1 triệu lít sữa. Sản lượng sữa do Liên hiệp sản xuất chiếm 42,6% thị phần trong cả nước.

Nhận thức rõ vai trò của các HTX chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, Chính phủ Ấn Độ đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện nhiều dự án khác nhau trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản, hàng tiêu dùng, lâm sản và các mặt hàng khác, đồng thời thực hiện các dự án về phát triển những vùng nông thôn còn lạc hậu. Ngoài ra, Chính phủ đã thực hiện chiến lược phát triển cho khu vực HTX như: Xúc tiến xuất khẩu; Sửa đổi Luật HTX, tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng động hơn; Chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX; Thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; Bảo đảm trách nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên.

3. Thái Lan

HTX tín dụng nông thôn Thái Lan được thành lập từ lâu. Do hoạt động của HTX này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng được thành lập khắp cả nước. Cùng với sự phát triển của các HTX tiêu dùng, các loại hình HTX nông nghiệp, công nghiệp cũng được phát triển mạnh, và trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ vững ổn định xã hội

Năm 2001, Thái Lan có 5.611 HTX các loại với hơn 8 triệu xã viên, trong đó có 3.370 HTX nông nghiệp với hơn 4 triệu xã viên; 100 HTX đất đai với hơn 147 nghìn xã viên; 76 HTX thủy sản với hơn 13 nghìn xã viên; 1.296 HTX tín dụng với hơn 2 triệu xã viên; 400 HTX dịch vụ với hơn 146 nghìn xã viên.

Liên đoàn HTX Thái Lan (CLT) được thành lập, là tổ chức HTX cấp cao quốc gia, thực hiện chức năng đại diện, hỗ trợ, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các HTX và xã viên theo luật định.

Hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX tiêu biểu: HTX nông nghiệp và HTX tín dụng. HTX Nông nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên trong các lĩnh vực: Vay vốn, gửi tiền tiết kiệm và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác. Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp với thời hạn ưu đãi thích hợp cho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ. Hiện nay, số HTX tham gia hoạt động kinh doanh này chiếm khoảng 39%.

Hoạt động của HTX tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên về các lĩnh vực: Khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; Góp cổ phần; Cung cấp các dịch vụ vốn vay cho xã viên... 

Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất. Mục tiêu của chính sách giá cả là: Đảm bảo chi phí đầu vào hợp lý để có giá bán ổn định cho người tiêu dùng, đồng thời góp phần làm ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước, giữ giá trong nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu. Với chính sách tín dụng, các xã viên có thể vay tín dụng từ các HTX Nông nghiệp, các cơ quan chính phủ, các ngân hàng thương mại để đầu tư vào sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp. Trong giai đoạn 2002-2004, Chính phủ đã dành 134 tỷ Bạt để cải thiện và phát triển HTX, bao gồm phát triển sản phẩm mới, giống công nghệ sinh học, mở rộng tưới tiêu...Ngân hàng các HTX Nông nghiệp và nông thôn Thái Lan đã dành 2 tỷ Bạt để khuyến khích xã viên các HTX sản xuất-kinh doanh. Ngoài ra, Chính phủ đã thành lập Bộ Nông nghiệp và HTX, trong đó có 2 vụ chuyên trách về HTX là Vụ phát triển HTX và Vụ kiểm toán HTX. Vụ phát triển HTX đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các HTX thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm đạt được các mục tiêu do các HTX đề ra; Vụ kiểm toán HTX thực hiện chức năng kiểm toán HTX và hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX. Hàng năm, Liên đoàn HTX Thái Lan tổ chức hội nghị toàn thể với sự tham gia của các đại diện từ các loại hình HTX trong cả nước và đại diện các cơ quan của Chính phủ liên quan đến tổ chức HTX. Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển khu vực HTX.

4. Malaixia

Các tổ chức HTX của Malaixia được thành lập từ những năm đầu của thế kỷ XX. Hiện nay, tổ chức HTX đang là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Tổ chức HTX Malaixia (ANGKASA) là tổ chức cấp cao của các HTX. ANGKASA có nhiệm vụ hỗ trợ các HTX thành viên về phương thức điều hành và quản lý các hoạt động của HTX bằng cách tư vấn, giáo dục hoặc tổ chức những dịch vụ cần thiết. Hiện nay, ANGKASA có 4.049 HTX các loại với 4,33 triệu xã viên, trong đó, HTX tín dụng và ngân hàng có 442 HTX với 1,32 triệu xã viên; HTX nông nghiệp có 205 HTX với 0,19 triệu xã viên; HTX xây dựng nhà ở có 103 HTX với 0,07 triệu xã viên; HTX công nghiệp có 51 HTX với 0,01 triệu xã viên; HTX tiêu dùng có 2.359 HTX với 2 triệu xã viên; HTX dịch vụ có 362 HTX với 0,14 triệu xã viên v.v... Sự phát triển vững chắc của các khu vực kinh tế HTX đã thúc đẩy nền kinh tế Malaixia có bước phát triển mới.

Các nguyên tắc của HTX được ANGKASA nêu cụ thể như sau: Quản lý dân chủ; Thành viên tự nguyện; Thu nhập bình đẳng; Phân phối lợi nhuận kinh doanh theo mức độ sử dụng các dịch vụ của các xã viên và mức đóng góp cổ phần của xã viên; Hoàn trả vốn theo mức đầu tư; Xúc tiến công tác đào tạo phổ cập kiến thức quản lý và khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho các xã viên.

Năm 1922, Pháp lệnh đầu tiên về HTX của Nhà nước Malaixia ra đời. Sau đó, năm 1993, Luật HTX ra đời, tạo khuôn khổ pháp lý để các HTX hoạt động, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo cán bộ quản lý HTX, củng cố quyền của xã viên cũng như công tác đào tạo xã viên. Luật cũng quy định việc kiểm toán nội bộ và xây dựng báo cáo toàn diện của Ban chủ nhiệm HTX trong Đại hội xã viên thường kỳ hàng năm. Đặc biệt, Chính phủ Malaixia đã thành lập Cục Phát triển HTX với một số hoạt động chính như: Quản lý và giám sát các hoạt động của HTX; Giúp đỡ tài chính và cơ sở hạ tầng để HTX có thể tồn tại hoạt động; Xây dựng kế hoạch phát triển HTX, kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý...

  1. II. Giải pháp phát triển các HTX nông nghiệp tại Việt Nam

Qua bài học kinh nghiệm tại các nước, HTX nông nghiệp của Việt Nam muốn làm ăn có hiệu quả kinh tế cao, phát triển một cách toàn diện và bền vững; phát huy tác dụng, ảnh hư­­ởng của mình đối với thành viên và cộng đồng, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

 

Về phát triển nền nông nghiệp hiện đại

Tr­­ước hết, đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ cho nông dân nhận thức đúng đắn về một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá hiện đại trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế; nhất định phải đi theo h­­ướng làm ăn lớn, có sản phẩm với số lư­­ợng lớn, chất lư­­ợng cao, th­­ương hiệu có uy tín, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới đ­ược thuận lợi… Chúng ta phải có những vùng chuyên canh, trồng trọt, chăn muôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản lớn, chứ không thể làm ăn manh mún như hiện nay. Do vậy, cần phải có chính sách, động viên người nông dân, các hộ xã viên tự nguyện chuyển đổi diện tích sử dụng đất nông nghiệp cho nhau tạo nên những cánh đồng lớn hoặc những vùng chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản lớn hàng chục, hàng trăm hécta với sản l­­ượng cây trồng, vật nuôi lên đến hàng trăm, nghìn tấn và năng suất chất l­ượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã đẹp, thương hiệu có uy tín để có thể biến nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá.

Thứ hai, cần có chính sách ­­ưu đãi, hỗ trợ tài chính, tín dụng cho khu vực sản xuất nông nghiệp, tiến tới thành lập Ngân hàng HTX nhằm mục đích cùng phối kết hợp thúc đẩy phát triển nông nghiệp, HTX và cộng đồng nông thôn.

Thứ ba, cần tập trung đẩy mạnh công tác phát triển nguồn nhân lực; nhất là, việc phát triển ngành nghề, dạy nghề cho thanh niên nông thôn; thực hiện phư­­ơng châm “ly nông bất ly h­­ương” để giải quyết vấn đề lao động và thu nhập ở nông thôn hiện nay. Biện pháp cụ thể là phải rà soát, quy hoạch lại các trường đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay. Tập trung đào tạo các nghề cụ thể về nông nghiệp nh­­ư công nghệ lai tạo giống mới, quy trình chăm sóc cây trồng, vật nuôi, ph­­ương pháp bón phân, phun thuốc bảo vệ thực vật đúng cách, đảm bảo an toàn thực phẩm, các kỹ thuật sửa chữa, sử dụng các máy cơ khí nông nghiệp, máy chế biến nông sản…

Thứ tư, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp, nhằm tạo ra những những sản phẩm nông nghiệp mới chất l­­ượng, năng suất cao, mẫu mã đẹp, có đặc điểm khác biệt và an toàn cao, có sức cạnh tranh cao trên thị tr­­ường thế giới.

Thứ năm, hiện nay, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng nông thôn của nư­­ớc ta còn rất yếu kém; do vậy cần tăng cường đầu tư­­ tài chính nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn như­­ đ­­ường xá, trư­­ờng học, bệnh viện, giao thông nội đồng, kênh m­­ương t­­ới tiêu, điện cho sản xuất, sinh hoạt, các thiết chế hành chính, văn hoá, tăng cư­­ờng đầu t­­ư trang thiết bị, các máy móc tiên tiến phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản, giảm đến mức thấp nhất việc bán hoặc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp chư­­a qua chế biến như­­ hiện nay, góp phần nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nông sản cho người nông dân và giải quyết lao động d­­ư thừa hiện nay ở nông thôn.

Thứ sáu, cần phải tăng c­­ường công tác tuyên truyền, thông tin nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của ng­­ười dân nông thôn và ý thức giác ngộ của họ, để họ tự lực phấn đấu vươn lên, huy động mọi nguồn lực về tinh thần, cơ sở vật chất, tài chính, khai thác các nguồn lợi một cách có hiệu quả và bền vững nhất để phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Giáo dục cho họ nhận thức rõ: ngoài sự nỗ lực lao động cần cù, trong thời đại khoa học công nghệ và cơ chế thị trư­­ờng hiện nay, ng­­ười nông dân rất cần phải có kiến thức để áp dụng khoa học công nghệ; đồng thời họ cũng cần phải có kiến thức về kinh tế thị tr­­ường, giảm thiểu những tổn thư­­ơng do mặt trái của cơ chế thị trường đưa đến và phải biết cách hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản để dần dần hình thành và chiếm lĩnh đ­­ược thị tr­­ường hàng hoá nông sản trong và ngoài n­­ước…

Về phát triển HTX

Để xác định đúng định h­­ướng và sát với thực tế của các HTX nông nghiệp, việc khảo sát thực tế các HTX nông nghiệp và bà con xã viên và thu được kết quả cụ thể trong bảng tổng hợp dưới đây:

Những kiến nghị của HTX nông nghiệp (% HTX)

TT

Nội dung

So sánh

ĐB Bắc Bộ

ĐB Nam Bộ

1

Cụ thể hóa, triển khai các chính sách khuyến khích, hỗ trợ

39.44

38.89

2

Hỗ trợ việc cấp đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…

29.58

27.78

3

Hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ quỹ phát triển HTX, và các ư­u đãi tín dụng..

46.48

38.10

4

Chính sách đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc

23.94

1.59

5

Xây dựng kế hoạch, dự án và hỗ trợ khác trong đào tạo, bồi d­ưỡng

40.85

20.63

6

Tăng cường kinh phí đào tạo, bồi d­ưỡng cán bộ cho HTX

6.34

9.52

7

Kiến nghị khác

20.42

3.97

(Nguồn: Số liệu thống kê  điều tra, khảo sát phục vụ Đại hội IV LMHTXVN)

Từ đó chúng ta có thể đề xuất các giải pháp để phát triển HTX nông nghiệp nh­­ư sau:

1. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về HTX kiểu mới; kiên quyết chấn chỉnh, củng cố hoạt động của các HTX nông nghiệp theo đúng bản chất, nguyên tắc và những giá trị tốt đẹp của HTX và những quy định của Luật HTX. Các HTX mới thành lập, HTX chuyển đổi cần phải quy định mức góp vốn tối thiểu để nâng cao trách nhiệm của xã viên đối với HTX, đồng thời đó cũng là nguồn vốn quan trọng để HTX có đủ năng lực tài chính để hoạt động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

2. Trong điều kiện của nền kinh tế thị tr­­ường và hội nhập kinh tế hiện nay, cần tổ chức và xây dựng các HTX nông nghiệp dịch vụ tổng hợp, phù hợp với mô hình tổ chức quản lý mới trong nông nghiệp với bộ máy quản lý gọn nhẹ, linh hoạt, năng động. Bổ sung, sửa đổi Luật HTX 2003 theo hướng tinh giản những thủ tục hành chính trong thành lập và giải thể HTX; tránh khuyến khích và ư­­u tiên một cách tràn lan, nhưng trên thực tế ít có hiệu quả và không đ­­ược thực thi nghiêm chỉnh. Bao tiêu sản phẩm đầu ra, các mặt hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ cho xã viên và bà con nông dân, tiến tới xây dựng các cơ sở chế biến, bảo quản nông sản, giống cho bà con xã viên. Phấn đấu mở thêm các dịch vụ về thương mại, tín dụng nội bộ, quản lý chợ, cung cấp xăng dầu, xây dựng, cung cấp n­­ước sạch, vệ sinh môi trư­­ờng nông thôn…

3. Cần phải xây dựng chiến l­­ược dài hạn để phát triển nông nghiệp, không dừng lại ở các đề án, dự án… Nhất là, cần phải có các chính sách có trọng tâm, trọng điểm để khuyến khích và hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp; xây dựng và phát triển HTX trong nông nghiệp. Đặc biệt là chính sách hỗ trợ đất đai, tài chính, tín dụng, đào tạo cán bộ và tăng cư­­ờng cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ cho các HTX nông nghiệp phát triển.

4. Vận động bà con xã viên tự giác dồn điền đổi thửa để có những vùng chuyên canh về trồng cây lư­­ơng thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản lớn. Từ đó, mới có thể tạo ra nguồn hàng nông sản lớn, đảm bảo chất lư­­ợng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm để cung cấp cho xã hội và xuất khẩu.

5. Nâng cao hiệu quả của các HTX dịch vụ nông nghiệp là cốt lõi trong việc củng cố hoạt động của các HTX nông nghiệp chuyển đổi hiện nay. Ngoài các biện pháp về tổ chức, khâu then chốt là đào tạo nguồn nhân lực cho HTX, cần phải tiến hành đồng bộ từ khâu tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, bồi d­­ưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của HTX; nhất là, chủ nhiệm, kế toán tr­­ưởng và tr­­ưởng ban Kiểm soát HTX, trong khi hiện nay điều kiện về tiền l­­ương, thu nhập của các HTX nông nghiệp hiện còn rất thấp.

6. Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ nh­­ư ngày nay, nhất là sự phát triển mạnh mẽ và tiến bộ nhanh chóng của công nghệ sinh học, các HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp cần phải chủ động liên hệ, hợp tác với các viện nghiên cứu, cá nhân các nhà khoa học để nhận được sự chuyển giao và mạnh dạn áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới vào trong sản xuất nông nghiệp, mới có thể có những mặt hàng nông sản có giá trị năng suất, chất lượng cao cung cấp ra thị tr­­ường và xuất khẩu.

7. Hiện nay, nhiều vùng nông thôn của nư­­ớc ta điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn đang rất khó khăn, nhà n­­ước đã và đang có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nông thôn, các HTX nông nghiệp dịch vụ tổng hợp cần phải nắm bắt thời cơ, mạnh dạn đầu t­­ư xây dựng lực l­­ượng lao động có kỹ thuật, tham gia đấu thầu các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn như­­: đ­­ường giao thông nông thôn, kênh mư­­ơng nội đồng, xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo, bệnh xá, trư­­ờng học, kho chế biến, các dịch vụ cơ khí, vận tải ở nông thôn…

Hiện đại hoá trang thiết bị của HTX cho phù hợp với sự tiến bộ của thời đại; nhất là về thông tin và truyền thông, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động xã viên và ngư­­ời lao động hiểu rõ về những giá trị, bản chất tốt đẹp của HTX, hoạt động theo đúng quy định của Luật HTX, xây dựng HTX phát triển theo h­­ướng hiệu quả, tiến bộ, văn minh, trợ giúp đắc lực cho bà con xã viên, ng­­ười lao động và cộng đồng dân cư­­ ở nông thôn.

8. Trong nền kinh tế thị trư­­ờng và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các HTX cần phải chủ động và tăng cư­­ờng hơn nữa khả năng hợp tác liên kết để làm gia tăng giá trị của chuỗi hàng hóa của mình; không nên bán nguyên liệu thô không qua sơ chế hoặc chế biến thành sản phẩm hàng hóa…

Phòng Đào tạo, bồi dưỡng

 

 

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
Bạn đang ở: Home Nghiên cứu - Trao đổi Mô hình phát triển HTX của các nước Châu Á, bài học cho phát triển HTX nông nghiệp ở Việt Nam