Rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp thực trạng và giải pháp

Hiện nay 70% dân số nước ta sống tại nông thôn, cuộc sống phụ thuộc vào nguồn thu nhập bấp bênh từ nông nghiệp, do đó việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở nông thôn được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu. Để nền kinh tế đó phát huy hiệu quả, không có con đường nào ngắn bằng việc gắn nó với phát triển các HTX nông nghiệp. Thực tiễn Việt Nam cũng đã có hàng trăm HTX khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong hỗ trợ các hộ nông dân xoá đói, giảm nghèo vươn lên làm giàu, tạo dựng bộ mặt nông thôn mới. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các HTX nông nghiệp luôn gặp những rủi ro gây tổn thất nặng nề cho HTX. Rủi ro xuất phát từ chính môi trường nội tại của HTX như rủi ro về tài chính, rủi ro sản xuất, rủi ro từ nguồn nhân lực...Hay rủi ro xuất phát từ môi trường bên ngoài của HTX nông nghiệp như: rủi ro từ phía đối tác kinh doanh, rủi ro thông tin, rủi ro từ môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị - pháp luật, công nghệ...

Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp, tìm ra những nguyên nhân gây ra rủi ro, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp hiện nay.

1. Rủi ro xuất phát từ môi trường nội tại của các HTX nông nghiệp

1.1. Rủi ro tài chính của HTX

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đa phần các HTX nông nghiệp đều gặp phải rủi ro do thiếu các công cụ tài chính để bảo hiểm cho sản xuất nông nghiệp. Các hợp đồng bảo hiểm mùa có thể giúp người sản xuất phòng ngừa rủi ro từ thiên tai và dịch bệnh, song dường như còn quá lạ lẫm với thông lệ sản xuất truyền thống. Thành viên HTX sản xuất thiếu kiến thức và dè dặt trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm giá. Bên cạnh công cụ tài chính, cũng có những công cụ khác để phòng tránh rủi ro nhưng khá hạn chế. Rủi ro từ cách sử dụng vốn của mình. Cụ thể:

- Rủi ro xảy ra khi HTX nông nghiệp bị mất an toàn về tài chính

An toàn tài chính thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc mất an toàn tài chính là do sử dụng vốn vay.

HTX nông nghiệp vay vốn chủ yếu từ các thành viên và các chương trình hỗ trợ vốn của chính phủ, rất ít HTX nông nghiệp vay được vốn của các ngân hàng.

Trong số những HTX nông nghiệp vay vốn vẫn phải trả lãi vay, nên họ rơi vào tình trạng gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản vay (rủi ro thanh toán). Hoạt động kinh doanh không hiệu quả, nợ năm này qua năm khác, số tiền vay nợ của HTX ngày càng tăng dẫn tới HTX mất khả năng thanh toán và chỉ còn cách giải thể.

- Rủi ro khi HTX nông nghiệp không thu hồi được các khoản nợ

Hiện nay, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2016 trên 60% các HTX trong cả nước chưa thực hiện việc chuyển đổi theo Luật HTX 2012, trong đó hầu hết là các HTX nông nghiệp có những khoản nợ đã trên 20 năm.

Đối tượng nợ chủ yếu là các thành viên HTX, họ vay vốn của HTX để sản xuất kinh doanh hoặc nợ tiền thủy lợi phí, các khoản tiền dịch vụ mà HTX cung cấp cho thành viên...

Nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ khó thu hồi là do thiên tai, mất mùa, dịch bệnh những yếu tố khách quan gây ra là các khoản nợ hàng hóa, dịch vụ từ thời bao cấp, những khoản nợ đã kéo dài hàng chục năm, tiền lãi đã vượt cả số gốc ban đầu mà hộ thành viên đi vay, thậm chí chủ hộ vay vốn của HTX cũng đã mất nên việc thu hồi nợ là vô cùng khó khăn.

- Rủi ro xảy ra khi có sự biến động về giá cả

Rủi ro xảy ra khi có sự biến động của giá cả hàng hóa đầu vào và đầu ra làm giảm sút lợi nhuận của HTX nông nghiệp.

Giá nguyên vật liệu đầu vào của sản xuất nông nghiệp, giá vật tư nông nghiệp, phân bón, giống cây trồng, vật nuôi... biến động liên tục. Khi giá đầu ra và năng suất không đổi, HTX nông nghiệp nhập vật tư, hàng hóa đầu vào với giá cao dẫn tới lợi nhuận của HTX bị giảm sút, thậm chí HTX còn phải gánh chịu phần chênh lệch do giá đầu vào tăng cao. Hay trường hợp chi phí đầu vào của HTX nông nghiệp cao, nhưng khi tiêu thụ sản phẩm giá lại giảm dẫn tới lợi nhuận giảm, thậm chí lỗ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của HTX.

Qua tìm hiểu thực tế, 100% HTX đều gặp phải rủi ro khi có biến động giá xảy ra. Cụ thể những HTX sản xuất nông nghiệp, HTX trồng cây ăn quả, HTX chăn nuôi, HTX thủy sản... chịu ảnh hưởng nặng nề của biến động về giá.

1.2. Rủi ro sản xuất

Thứ nhất, Các HTX đa phần sản xuất mà chưa xác định được nhu cầu thị trường về số lượng và chất lượng sản phẩm. Hầu hết, thành viên HTX đều sản xuất tự phát, theo phong trào, chưa quy hoạch vùng sản xuất. Sản lượng lớn cùng chủng loại làm tăng tính cạnh tranh trực tiếp giữa những người nông dân; chất lượng không đồng đều khiến cho người mua không có thiện cảm tốt với sản phẩm.

Thứ hai, rủi ro xuất phát từ sự biến động của năng suất cây trồng, vật nuôi, những nguyên nhân dẫn tới biến động năng suất cây trồng và vật nuôi đó là do thiên tai, dịch bệnh, giống không đảm bảo chất lượng, áp dụng công nghệ, giống mới vào sản xuất.

Qua tìm hiểu thực tế, tỷ lệ HTX nông nghiệp gặp rủi ro khi áp dụng giống mới vào sản xuất không nhiều. Số ít, HTX rủi ro do phân bón giả, giống kém chất lượng gây ra. Khi gặp phải rủi ro này hầu như các HTX mất trắng diện tích canh tác hay đàn vật nuôi, những HTX nông nghiệp làm dịch vụ thì bị mất uy tín với thành viên, làm giảm số lượng hàng hóa ở vụ sau.

1.3. Rủi ro bắt nguồn từ cơ sở vật chất, công nghệ của HTX nông nghiệp

Một thực trạng đặt ra là cơ sở vật chất của HTX nông nghiệp nhìn chung còn nghèo nàn, lạc hậu. Đa phần các HTX chưa có trụ sở riêng, một số mượn tạm nhà kho của ủy ban là trụ sở làm việc, máy móc thiết bị của HTX thô xơ, lạc hậu, chưa được đầu tư mới do không có vốn,...

Vì vậy, kỹ thuật bảo quản sau chế biến rất thô sơ. Các mặt hàng nông sản (loại quả tươi) không giữ được chất lượng sau quãng đường dài di chuyển từ nơi sản xuất đến bàn ăn do khâu bảo quản đông lạnh để vận chuyển sản phẩm chưa được đầu tư. Ví dụ, mặt hàng dưa hấu xuất khẩu của Việt Nam được bảo quản rất thô sơ, chỉ phủ rơm khi vận chuyển, dẫn đến không giữ được lâu và dễ bị ép giá.

Đồng thời, năng lực và chất lượng sản phẩm nông sản chế biến thấp, sản phẩm thô vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do mô hình sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, các cơ sở chế biến đang ở quy mô nhỏ và vừa, với nguồn lực hạn chế và mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật thấp.

1.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động HTX

So với các loại hình doanh nghiệp khác, nhìn chung trình độ học vấn của người blao động làm việc trong các HTX nông nghiệp rất thấp. Tỷ lệ cán bộ quản lý HTx có trình độ trung cấp, sơ cấp bình quân đạt 32,12%; tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ trung cấp, sơ cấp bình quân đạt 32,12%; tỉ lệ cán bộ quản lý đạt trình độ cao đẳng, đại học bình quân đạt 8,455.

Độ tuổi trung bình của cán bộ HTX nông nghiệp là trên 50 tuổi. HTX nông nghiệp không thu hút được đội ngũ cán bộ trẻ có kiến thức về làm việc. Đa phần cán bộ lãnh đạo của HTX sau một thời gian làm việc thể hiện được năng lực của mình lại được cơ cấu vào các vị trí trong chính quyền địa phương, hay một số cán bộ lãnh đạo mặc dù rất tâm huyết với sự nghiệp phát triển HTX nhưng do thu nhập từ HTX quá thấp không đáp ứng được mức sống tối thiểu nên đành phải rời bỏ HTX đến với các xí nghiệp, công ty có mức lương cao hơn.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các HTX nông nghiệp còn gặp phải rủi ro về tai nạn lao động gây thiệt hại nặng nề về người và của. Những tai nạn mà người lao động của HTX nông nghiệp thường gặp phải như: tai nạn khi dùng máy xay xát, máy tuốt lúa, máy cày, điện giật, ngộ độc hóa chất thuốc bảo vệ thực vật,...

Hầu hết người vận hành máy móc nông nghiệp không được đào tạo về điều khiển máy móc và không có trang bị bảo hộ cá nhân, người sử dụng máy không có giấy phép hành nghề; máy móc không có trang bị bảo hiểm.

Tai nạn do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người lao động. Có khoảng 10 – 15% người lao động hiểu đúng, tùy theo từng vùng hướng dẫn sử dụng in trên vỏ thuốc bảo vệ thực vật, số còn lại hiểu sai hoặc không hiểu cách sử dụng và đa phần sử dụng một cách tùy tiện (dùng nhiều lần trong một vụ hoặc không đảm bảo cách ly theo quy định cho từng loại thuốc BVTV) dẫn tới lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm vượt hơn mức độ cho phép. Như vậy, không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động mà nghiêm trọng hơn còn ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng.

Một rủi ro xuất phát từ phía nguồn nhân lực của HTX nông nghiệp là do người lao động không tuân thủ đúng quy trình sản xuất, không tuân thủ theo lịch thời vụ.

Nguyên nhân chủ yếu là do HTX và thành viên vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh theo phong tục, tập quán, kinh nghiệm, không quan tâm nhiều tới những dự báo, dự đoán của cán bộ kỹ thuật nông nghiệp dẫn tới HTX và thành viên phải chịu hậu quả nặng nề về kinh tế.

2. Rủi ro xuất phát từ môi trường bên ngoài của HTX nông nghiệp

2.1. Rủi ro từ phía đối tác kinh doanh

Rủi ro từ phía đối tác của HTX nông nghiệp xảy ra khi có sự phá vỡ cam kết mua – bán hàng hóa, vật tư phục vụ sản xuất kinh doanh. Cam kết đó có thể dưới hình thức là hợp đồng bằng văn bản hoặc hợp đồng "bằng miệng".

Hầu hết các HTX nông nghiệp chủ yếu làm dịch vụ đầu vào cho thành viên như phân bón; thuốc BVTV; giống, ... nhưng chưa đạt ở mức cao.

Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng dịch vụ đầu vào được thực hiện thông qua hợp đồng giữa HTX và hộ thành viên còn thấp, hầu hết là hợp đồng "bằng miệng". Vì vậy, tỷ lệ hộ phá hợp đồng khá cao (76,1% ). Đây là một thực trạng phổ biến ở nước ta hiện nay, thành viên ký hợp đồng với HTX vào thời điểm trước vụ sản xuất, khi vào chính vụ giá nông sản tăng cao, tư thương hoặc các doanh nghiệp mua với giá cao hơn HTX nông nghiệp hoặc kèm theo các điều kiện hấp dẫn trước mắt khác nên thành viên đã cố tình phá vỡ hợp đồng để hưởng phần giá chênh lệch và lẩn tránh việc thanh toán các khoản đầu tư ứng trước của HTX theo hợp đồng. Do vậy, việc ứng trước nguyên vật liệu đầu vào sản xuất cho thành viên, khách hàng của HTX nông nghiệp luôn tiềm ẩn rủi ro, khi rủi ro xảy ra việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại mất nhiều thời gian và công sức. Hơn nữa HTX không có đủ nguồn hàng cung ứng cho đối tác kinh doanh làm mất uy tín và gây thiệt hại nặng nề cho HTX.

Đối với khách hàng là các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm cho HTX. Một số HTX nông nghiệp có hợp đồng tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp, mặt hàng nông sản tiêu thụ qua hợp đồng chủ yếu là lúa gạo, cà phê, chè, bông, hồ tiêu, thanh long... Tuy nhiên, trong số HTX có hợp đồng tiêu thụ nông sản có HTX nông nghiệp gặp phải tình trạng doanh nghiệp không thực hiện đúng hợp đồng như cam kết. Gây thiệt hại nặng nề cho HTX nông nghiệp.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng doanh nghiệp không thực hiện đúng hợp đồng cam kết với HTX như: HTX và doanh nghiệp chưa thống nhất được yêu cầu về chuẩn hàng hóa, nông sản, bởi lẽ HTX nông nghiệp quy mô còn nhỏ, thiếu nguồn nhân lực, phương tiện máy sấy, kho chứa, vận chuyển... nên chọn phương thức bán lúa tươi tại ruộng, trong khi điều kiện bao tiêu của doanh nghiệp chỉ thu mua lúa khô tại nhà máy. HTX nông nghiệp cũng hay gặp trường hợp doanh nghiệp không giữ chữ tín, không tôn trọng lợi ích của HTX, đơn phương phá bỏ hợp đồng, không quan tâm đầu tư cho vùng nguyên liệu... một số doanh nghiệp đã lạm dụng thế độc quyền để ép cấp, ép giá trong thu mua nông sản, như đưa ra những yêu cầu quá cao về chất lượng để khi thu mua giảm giá sản phẩm; sử dụng việc đánh giá phẩm cấp để ép giá (phân loại quá nhiều phẩm cấp hoặc không rõ ràng, nhân viên thu mua đánh giá phẩm cấp sản phẩm không đồng nhất...); trì hoãn việc thu mua khi chính vụ làm giảm chất lượng nông sản; việc soạn thảo hợp đồng do áp đặt từ phía doanh nghiệp; thanh toán hợp đồng chậm, chưa thật sòng phẳng.

2.2. Rủi ro từ phía đối thủ cạnh tranh

Thực trạng hiện nay cho thấy, hoạt động của HTX nông nghiệp đang gặp phải sự cạnh tranh từ phía các cửa hàng, đại lý, doanh nghiệp và các HTX nông nghiệp khác cùng kinh doanh sản phẩm, dịch vụ giống HTX.

Do vậy, trong thời gian tới HTX nông nghiệp cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình để tránh rủi ro giảm số lượng khách hàng bởi đối thủ cạnh tranh, gây thiệt hại tới lợi nhuận của HTX.

2.3. Rủi ro từ môi trường tự nhiên

Thiên tai xảy ra làm thiệt hại nặng nề cho ngành nông nghiệp nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng, diện tích cây trồng bị ngập úng, đê điều, công trình thủy lợi nội đồng bị sạt lở, trạm bơm của HTX nông nghiệp bị ngập nước gây hỏng hóc máy móc...

Ngoài ra, thành viên HTX còn phải chịu rủi ro từ dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi. Khi dịch bệnh xảy ra nó có khả năng lây lan nhanh và làm mất trắng diện tích cây trồng và vật nuôi.

2.4. Rủi ro từ môi trường kinh tế vĩ mô

Nếu nền kinh tế vĩ mô không ổn định, lạm phát gia tăng, giá cả thất thường, cung cầu bất ổn, tỷ giá thay đổi chóng mặt, hàng hóa dịch vụ khan hiếm (thật và giả), độc quyền không kiểm soát được... Ngoài ra, các thách thức đến từ một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin cũng sẽ là những rủi ro cho những HTX thiếu khả năng thích ứng với đổi mới.

Trên thực tế, nền kinh tế vĩ mô của nước ta tương đối ổn định trong những năm gần đây. GDP luôn duy trì ở mức 5-6%; Lạm phát được kiềm chế đã giảm mạnh từ 18,6% năm 2011 xuống 1,84% năm 2014. Mặt bằng tỷ giá không có nhiều biến động, lãi suất huy động và lãi suất cho vay giảm...Đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp hạn chế rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho các HTX nông nghiệp.

2.5. Rủi ro từ môi trường văn hóa xã hội

Hầu hết các HTX nông nghiệp ở khu vực miền núi vẫn còn tồn tại tập quán phá rừng làm rẫy, phương thức sản xuất quảng canh, khu vực đất đồi có độ dốc, người dân có tập quán canh tác hỏa canh, công cụ sản xuất thô xơ, kỹ thuật lạc hậu, bà con không có thói quen mua phân bón về chăm sóc cây trồng, dựa vào tự nhiên là chính... dẫn tới đất bị xói mòn, thoái hóa, sản lượng nông nghiệp bấp bênh. Đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm thì thả rông tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm bệnh dịch cao...

Ở khu vực đồng bằng, đặc biệt 2 vựa lúa của cả nước là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù đã tiếp cận được với những phương thức sản xuất mới, hiệu quả hơn, tuy nhiên do thói quen, tập quán canh tác từ xưa vẫn chưa thể xóa bỏ nên vẫn còn hiện tượng không tuân thủ theo lịch thời vụ, không tuân theo quy trình sản xuất, hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, bón phân quá nhiều, phun thuốc BVTV không đúng quy cách...

3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

3.1. Giải pháp về nhân sự

- Nâng cao trình độ cán bộ, người lao động trong HTX nông nghiệp: hàng năm cần tiến hành đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của đơn vị mình; Sau đó, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho từng đối tượng cụ thể.

- Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kế cận: Sau khi tiến hành đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của mình, HTX sẽ xây dựng kế hoạch nhân sự, nhằm xác định cán bộ quản lý kế cận. Sau đó, HTX xây dựng lộ trình và kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ đó để trong tương lai có thể lãnh đạo HTX phát triển khi đội ngũ lãnh đạo cũ nghỉ.

- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng lao động cụ thể.

- Xây dựng chính sách đãi ngộ đối với người lao động: Hoàn thiện chính sách tiền lương của các HTX, xây dựng cơ chế thưởng, phạt rõ ràng, minh bạch, tạo môi trường làm việc tốt.

3.2. Giải pháp về phương thức tổ chức của HTX nông nghiệp

Để HTX nông nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hạn chế được tối đa rủi ro có thể gặp phải, họ cần thực hiện những nội dung sau:

- Đổi mới quản lý, điều hành và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX nông nghiệp: Hàng năm, Hội đồng quản trị HTX nông nghiệp phải xây dựng kế hoạch sản xuất – kinh doanh của đơn vị mình trên cơ sở rút kinh nghiệm hạn chế của những năm trước. Nâng cao vai trò của giám đốc HTX trong việc định hướng hoạt động của HTX từng năm, tìm kiếm đối tác mở rộng sản xuất kinh doanh cho HTX.

- Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng kế toán

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của ban kiểm soát

- Thành lập các tổ theo hướng chuyên môn hóa

- Liên kết các HTX nông nghiệp thành các liên hiệp HTX.

3.3. Giải pháp về tài chính

- Ngăn chặn tình trạng chiếm dụng vốn: Hội đồng quản trị HTX rà soát xác định nợ, mức nợ, phân loại nguồn nợ, đối tượng nợ, nguyên nhân nợ, nợ trong cơ chế bao cấp, nợ từ khi có cơ chế mới, nợ gốc, nợ lãi và xác định khả năng thanh toán nợ của từng đối tượng.

- Tích cực thực hiện giao dịch hàng hóa, dịch vụ qua hợp đồng: Trong hợp đồng cần quy định rõ các điều khoản về giá cả, số lượng, chất lượng, phương thức vận chuyển, thanh toán, các điều khoản xử phạt cụ thể khi các bên vi phạm hợp đồng...

- Nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ quá trình sản xuất – kinh doanh: thanh lý các tài sản, vật tư, công cụ không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả. Nâng cấp trụ sở làm việc, nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, máy móc thiết bị. Đầu tư máy móc hiện đại (máy sấy thóc, máy gặt đập liên hợp,...) trên cơ sở số vốn góp của thành viên, tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của các chương trình dự án, mạnh dạn vay với lãi suất ưu đãi của các quỹ hỗ trợ HTX...để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ của HTX. Phân tổ quản lý tài sản, máy móc thiết bị nhằm sử dụng tài sản của HTX nông nghiệp một cách hiệu quả nhất.

- Trích lập quỹ dự phòng tài chính: Hội đồng quản trị xây dựng mức trích lập quỹ dự phòng tài chính tỷ lệ không thấp hơn 5% trên thu nhập, thông qua Hội nghị thành viên để thống nhất thực hiện.

- Tích cực tham gia bảo hiểm nông nghiệp

- Thực hiện kiểm toán nội bộ

3.4. Nâng cao vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ các HTX nông nghiệp phát triển

- Tăng cường đầu tư vào các tài sản công như: Đầu tư các công trình thủy lợi, nâng cấp giao thông nông thôn, điện nước, xây dựng kho bãi hiện đại, đầu tư cho công tác nghiên cứu giống mới...

- Ổn định giá cả thị trường: Giá cả thị trường ổn định giúp giảm bớt rủi ro cho hoạt động của HTX nông nghiệp, từ đó HTX nông nghiệp có thể xây dựng kế hoạch, từng bước nâng cao vai trò của mình.

- Phát triển hoạt động bảo hiểm nông nghiệp: Xem xét tăng tỷ lệ miễn, giảm phí bảo hiểm nông nghiệp cho HTX nông nghiệp. Tuyên truyền, vận động giúp các HTX nông nghiệp hiểu và tham gia bảo hiểm nông nghiệp một cách tự nguyện.

- Hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển HTX nông nghiệp

- Phát triển hệ thống thông tin tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến thương mại cho HTX nông nghiệp.

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp chưa có trụ sở làm việc.

- Tiếp cận vốn vay ưu đãi từ phía ngân hàng.

3.5. Nâng cao vai trò của Liên minh HTX Việt Nam

- Tiếp tục thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho HTX nông nghiệp: Trong thời gian tới, liên minh HTX Việt Nam cần cơ cấu lại hệ thống các cơ sở đào tạo của mình trên cơ sở đào tạo nguồn nhân lực ở mọi cấp độ từ bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học.

- Nâng cao hoạt động tư vấn, hỗ trợ đối với HTX nông nghiệp

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hợp tác xã: tuyên truyền trên truyền hình, phát thanh, các cơ quan báo chí ở Trung ương và các tỉnh, thành phố. Biên soạn và phát hành các ấn phẩm, tài liệu, băng video, CD, DVD giới thiệu về phong trào HTX Việt Nam, về Liên minh HTX Việt Nam, Liên minh HTX quốc tế, phong trào HTX quốc tế. Củng cố công tác báo chí, nghiên cứu xây dựng hệ thống truyền thông của Liên minh HTX Việt Nam thiết thực, hiệu quả và phù hợp với quy định pháp luật. Tham gia xây dựng nội dung đào tạo về kinh tế tập thể và đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ giáo dục và đào tạo đưa nội dung về phát triển HTX vào chương trình giảng dạy trong các trường cao đẳng, đại học, trong hệ thống các trường chính trị của Đảng, Nhà nước.

- Phát huy vai trò là cầu nối liên kết "bốn nhà" nông dân với nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp.

- Mở rộng hợp tác quốc tế: học hỏi kinh nghiệm quản trị rủi ro trong nông nghiệp của các nước phát triển. Tiếp cận với các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp, các chương trình đào tạo xây dựng quy trình quản trị rủi ro của các HTX nông nghiệp ở các nước phát triển.

4. KẾT LUẬN

Rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro xấu có thể xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp là việc làm cấp thiết hiện nay. Để HTX nông nghiệp phát triển cần có sự quan tâm, hỗ trợ từ các cấp ủy Đảng, nhà nước, Liên minh HTX Việt Nam cũng như Liên minh HTX các tỉnh trong việc định hướng, tư vẫn, hỗ trợ về mọi mặt. Có như vậy, HTX nông nghiệp mới có thể phát triển bền vững được.

Phòng Đào tạo, bồi dưỡng

RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA HTX NÔNG NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Hiện nay 70% dân số nước ta sống tại nông thôn, cuộc sống phụ thuộc vào nguồn thu nhập bấp bênh từ nông nghiệp, do đó việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở nông thôn được Đảng và Nhà nước đặt lên hàng đầu. Để nền kinh tế đó phát huy hiệu quả, không có con đường nào ngắn bằng việc gắn nó với phát triển các HTX nông nghiệp. Thực tiễn Việt Nam cũng đã có hàng trăm HTX khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong hỗ trợ các hộ nông dân xoá đói, giảm nghèo vươn lên làm giàu, tạo dựng bộ mặt nông thôn mới. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các HTX nông nghiệp luôn gặp những rủi ro gây tổn thất nặng nề cho HTX. Rủi ro xuất phát từ chính môi trường nội tại của HTX như rủi ro về tài chính, rủi ro sản xuất, rủi ro từ nguồn nhân lực…Hay rủi ro xuất phát từ môi trường bên ngoài của HTX nông nghiệp như: rủi ro từ phía đối tác kinh doanh, rủi ro thông tin, rủi ro từ môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị - pháp luật, công nghệ…

Bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp, tìm ra những nguyên nhân gây ra rủi ro, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp hiện nay.

1. Rủi ro xuất phát từ môi trường nội tại của các HTX nông nghiệp

1.1. Rủi ro tài chính của HTX

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đa phần các HTX nông nghiệp đều gặp phải rủi ro do thiếu các công cụ tài chính để bảo hiểm cho sản xuất nông nghiệp. Các hợp đồng bảo hiểm mùa có thể giúp người sản xuất phòng ngừa rủi ro từ thiên tai và dịch bệnh, song dường như còn quá lạ lẫm với thông lệ sản xuất truyền thống. Thành viên HTX sản xuất thiếu kiến thức và dè dặt trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm giá. Bên cạnh công cụ tài chính, cũng có những công cụ khác để phòng tránh rủi ro nhưng khá hạn chế. Rủi ro từ cách sử dụng vốn của mình. Cụ thể:

- Rủi ro xảy ra khi HTX nông nghiệp bị mất an toàn về tài chính

An toàn tài chính thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc mất an toàn tài chính là do sử dụng vốn vay.

HTX nông nghiệp vay vốn chủ yếu từ các thành viên và các chương trình hỗ trợ vốn của chính phủ, rất ít HTX nông nghiệp vay được vốn của các ngân hàng.

Trong số những HTX nông nghiệp vay vốn vẫn phải trả lãi vay, nên họ rơi vào tình trạng gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản vay (rủi ro thanh toán). Hoạt động kinh doanh không hiệu quả, nợ năm này qua năm khác, số tiền vay nợ của HTX ngày càng tăng dẫn tới HTX mất khả năng thanh toán và chỉ còn cách giải thể.

- Rủi ro khi HTX nông nghiệp không thu hồi được các khoản nợ

Hiện nay, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2016 trên 60% các HTX trong cả nước chưa thực hiện việc chuyển đổi theo Luật HTX 2012, trong đó hầu hết là các HTX nông nghiệp có những khoản nợ đã trên 20 năm.

Đối tượng nợ chủ yếu là các thành viên HTX, họ vay vốn của HTX để sản xuất kinh doanh hoặc nợ tiền thủy lợi phí, các khoản tiền dịch vụ mà HTX cung cấp cho thành viên…

Nguyên nhân chủ yếu của các khoản nợ khó thu hồi là do thiên tai, mất mùa, dịch bệnh những yếu tố khách quan gây ra là các khoản nợ hàng hóa, dịch vụ từ thời bao cấp, những khoản nợ đã kéo dài hàng chục năm, tiền lãi đã vượt cả số gốc ban đầu mà hộ thành viên đi vay, thậm chí chủ hộ vay vốn của HTX cũng đã mất nên việc thu hồi nợ là vô cùng khó khăn.

- Rủi ro xảy ra khi có sự biến động về giá cả

Rủi ro xảy ra khi có sự biến động của giá cả hàng hóa đầu vào và đầu ra làm giảm sút lợi nhuận của HTX nông nghiệp.

Giá nguyên vật liệu đầu vào của sản xuất nông nghiệp, giá vật tư nông nghiệp, phân bón, giống cây trồng, vật nuôi… biến động liên tục. Khi giá đầu ra và năng suất không đổi, HTX nông nghiệp nhập vật tư, hàng hóa đầu vào với giá cao dẫn tới lợi nhuận của HTX bị giảm sút, thậm chí HTX còn phải gánh chịu phần chênh lệch do giá đầu vào tăng cao. Hay trường hợp chi phí đầu vào của HTX nông nghiệp cao, nhưng khi tiêu thụ sản phẩm giá lại giảm dẫn tới lợi nhuận giảm, thậm chí lỗ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của HTX.

Qua tìm hiểu thực tế, 100% HTX đều gặp phải rủi ro khi có biến động giá xảy ra. Cụ thể những HTX sản xuất nông nghiệp, HTX trồng cây ăn quả, HTX chăn nuôi, HTX thủy sản… chịu ảnh hưởng nặng nề của biến động về giá.

1.2. Rủi ro sản xuất

Thứ nhất, Các HTX đa phần sản xuất mà chưa xác định được nhu cầu thị trường về số lượng và chất lượng sản phẩm. Hầu hết, thành viên HTX đều sản xuất tự phát, theo phong trào, chưa quy hoạch vùng sản xuất. Sản lượng lớn cùng chủng loại làm tăng tính cạnh tranh trực tiếp giữa những người nông dân; chất lượng không đồng đều khiến cho người mua không có thiện cảm tốt với sản phẩm.

Thứ hai, rủi ro xuất phát từ sự biến động của năng suất cây trồng, vật nuôi, những nguyên nhân dẫn tới biến động năng suất cây trồng và vật nuôi đó là do thiên tai, dịch bệnh, giống không đảm bảo chất lượng, áp dụng công nghệ, giống mới vào sản xuất.

Qua tìm hiểu thực tế, tỷ lệ HTX nông nghiệp gặp rủi ro khi áp dụng giống mới vào sản xuất không nhiều. Số ít, HTX rủi ro do phân bón giả, giống kém chất lượng gây ra. Khi gặp phải rủi ro này hầu như các HTX mất trắng diện tích canh tác hay đàn vật nuôi, những HTX nông nghiệp làm dịch vụ thì bị mất uy tín với thành viên, làm giảm số lượng hàng hóa ở vụ sau.

1.3. Rủi ro bắt nguồn từ cơ sở vật chất, công nghệ của HTX nông nghiệp

Một thực trạng đặt ra là cơ sở vật chất của HTX nông nghiệp nhìn chung còn nghèo nàn, lạc hậu. Đa phần các HTX chưa có trụ sở riêng, một số mượn tạm nhà kho của ủy ban là trụ sở làm việc, máy móc thiết bị của HTX thô xơ, lạc hậu, chưa được đầu tư mới do không có vốn,…

Vì vậy, kỹ thuật bảo quản sau chế biến rất thô sơ. Các mặt hàng nông sản (loại quả tươi) không giữ được chất lượng sau quãng đường dài di chuyển từ nơi sản xuất đến bàn ăn do khâu bảo quản đông lạnh để vận chuyển sản phẩm chưa được đầu tư. Ví dụ, mặt hàng dưa hấu xuất khẩu của Việt Nam được bảo quản rất thô sơ, chỉ phủ rơm khi vận chuyển, dẫn đến không giữ được lâu và dễ bị ép giá.

Đồng thời, năng lực và chất lượng sản phẩm nông sản chế biến thấp, sản phẩm thô vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do mô hình sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, các cơ sở chế biến đang ở quy mô nhỏ và vừa, với nguồn lực hạn chế và mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật thấp.

2.1.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động HTX

So với các loại hình doanh nghiệp khác, nhìn chung trình độ học vấn của người blao động làm việc trong các HTX nông nghiệp rất thấp. Tỷ lệ cán bộ quản lý HTx có trình độ trung cấp, sơ cấp bình quân đạt 32,12%; tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ trung cấp, sơ cấp bình quân đạt 32,12%; tỉ lệ cán bộ quản lý đạt trình độ cao đẳng, đại học bình quân đạt 8,455.[1]

Độ tuổi trung bình của cán bộ HTX nông nghiệp là trên 50 tuổi. HTX nông nghiệp không thu hút được đội ngũ cán bộ trẻ có kiến thức về làm việc. Đa phần cán bộ lãnh đạo của HTX sau một thời gian làm việc thể hiện được năng lực của mình lại được cơ cấu vào các vị trí trong chính quyền địa phương, hay một số cán bộ lãnh đạo mặc dù rất tâm huyết với sự nghiệp phát triển HTX nhưng do thu nhập từ HTX quá thấp không đáp ứng được mức sống tối thiểu nên đành phải rời bỏ HTX đến với các xí nghiệp, công ty có mức lương cao hơn.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các HTX nông nghiệp còn gặp phải rủi ro về tai nạn lao động gây thiệt hại nặng nề về người và của. Những tai nạn mà người lao động của HTX nông nghiệp thường gặp phải như: tai nạn khi dùng máy xay xát, máy tuốt lúa, máy cày, điện giật, ngộ độc hóa chất thuốc bảo vệ thực vật,…

Hầu hết người vận hành máy móc nông nghiệp không được đào tạo về điều khiển máy móc và không có trang bị bảo hộ cá nhân, người sử dụng máy không có giấy phép hành nghề; máy móc không có trang bị bảo hiểm.

Tai nạn do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người lao động. Có khoảng 10 – 15% người lao động hiểu đúng, tùy theo từng vùng hướng dẫn sử dụng in trên vỏ thuốc bảo vệ thực vật, số còn lại hiểu sai hoặc không hiểu cách sử dụng và đa phần sử dụng một cách tùy tiện (dùng nhiều lần trong một vụ hoặc không đảm bảo cách ly theo quy định cho từng loại thuốc BVTV) dẫn tới lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm vượt hơn mức độ cho phép. Như vậy, không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động mà nghiêm trọng hơn còn ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng.

Một rủi ro xuất phát từ phía nguồn nhân lực của HTX nông nghiệp là do người lao động không tuân thủ đúng quy trình sản xuất, không tuân thủ theo lịch thời vụ.

Nguyên nhân chủ yếu là do HTX và thành viên vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh theo phong tục, tập quán, kinh nghiệm, không quan tâm nhiều tới những dự báo, dự đoán của cán bộ kỹ thuật nông nghiệp dẫn tới HTX và thành viên phải chịu hậu quả nặng nề về kinh tế.

2. Rủi ro xuất phát từ môi trường bên ngoài của HTX nông nghiệp

2.1. Rủi ro từ phía đối tác kinh doanh

Rủi ro từ phía đối tác của HTX nông nghiệp xảy ra khi có sự phá vỡ cam kết mua – bán hàng hóa, vật tư phục vụ sản xuất kinh doanh. Cam kết đó có thể dưới hình thức là hợp đồng bằng văn bản hoặc hợp đồng “bằng miệng”.

Hầu hết các HTX nông nghiệp chủ yếu làm dịch vụ đầu vào cho thành viên như phân bón; thuốc BVTV; giống, … nhưng chưa đạt ở mức cao.

Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng dịch vụ đầu vào được thực hiện thông qua hợp đồng giữa HTX và hộ thành viên còn thấp, hầu hết là hợp đồng “bằng miệng”. Vì vậy, tỷ lệ hộ phá hợp đồng khá cao (76,1% ). Đây là một thực trạng phổ biến ở nước ta hiện nay, thành viên ký hợp đồng với HTX vào thời điểm trước vụ sản xuất, khi vào chính vụ giá nông sản tăng cao, tư thương hoặc các doanh nghiệp mua với giá cao hơn HTX nông nghiệp hoặc kèm theo các điều kiện hấp dẫn trước mắt khác nên thành viên đã cố tình phá vỡ hợp đồng để hưởng phần giá chênh lệch và lẩn tránh việc thanh toán các khoản đầu tư ứng trước của HTX theo hợp đồng. Do vậy, việc ứng trước nguyên vật liệu đầu vào sản xuất cho thành viên, khách hàng của HTX nông nghiệp luôn tiềm ẩn rủi ro, khi rủi ro xảy ra việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại mất nhiều thời gian và công sức. Hơn nữa HTX không có đủ nguồn hàng cung ứng cho đối tác kinh doanh làm mất uy tín và gây thiệt hại nặng nề cho HTX.

Đối với khách hàng là các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm cho HTX. Một số HTX nông nghiệp có hợp đồng tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp, mặt hàng nông sản tiêu thụ qua hợp đồng chủ yếu là lúa gạo, cà phê, chè, bông, hồ tiêu, thanh long… Tuy nhiên, trong số HTX có hợp đồng tiêu thụ nông sản có HTX nông nghiệp gặp phải tình trạng doanh nghiệp không thực hiện đúng hợp đồng như cam kết. Gây thiệt hại nặng nề cho HTX nông nghiệp.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng doanh nghiệp không thực hiện đúng hợp đồng cam kết với HTX như: HTX và doanh nghiệp chưa thống nhất được yêu cầu về chuẩn hàng hóa, nông sản, bởi lẽ HTX nông nghiệp quy mô còn nhỏ, thiếu nguồn nhân lực, phương tiện máy sấy, kho chứa, vận chuyển… nên chọn phương thức bán lúa tươi tại ruộng, trong khi điều kiện bao tiêu của doanh nghiệp chỉ thu mua lúa khô tại nhà máy. HTX nông nghiệp cũng hay gặp trường hợp doanh nghiệp không giữ chữ tín, không tôn trọng lợi ích của HTX, đơn phương phá bỏ hợp đồng, không quan tâm đầu tư cho vùng nguyên liệu… một số doanh nghiệp đã lạm dụng thế độc quyền để ép cấp, ép giá trong thu mua nông sản, như đưa ra những yêu cầu quá cao về chất lượng để khi thu mua giảm giá sản phẩm; sử dụng việc đánh giá phẩm cấp để ép giá (phân loại quá nhiều phẩm cấp hoặc không rõ ràng, nhân viên thu mua đánh giá phẩm cấp sản phẩm không đồng nhất…); trì hoãn việc thu mua khi chính vụ làm giảm chất lượng nông sản; việc soạn thảo hợp đồng do áp đặt từ phía doanh nghiệp; thanh toán hợp đồng chậm, chưa thật sòng phẳng.

2.2. Rủi ro từ phía đối thủ cạnh tranh

Thực trạng hiện nay cho thấy, hoạt động của HTX nông nghiệp đang gặp phải sự cạnh tranh từ phía các cửa hàng, đại lý, doanh nghiệp và các HTX nông nghiệp khác cùng kinh doanh sản phẩm, dịch vụ giống HTX.

Do vậy, trong thời gian tới HTX nông nghiệp cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình để tránh rủi ro giảm số lượng khách hàng bởi đối thủ cạnh tranh, gây thiệt hại tới lợi nhuận của HTX.

2.3. Rủi ro từ môi trường tự nhiên

Thiên tai xảy ra làm thiệt hại nặng nề cho ngành nông nghiệp nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng, diện tích cây trồng bị ngập úng, đê điều, công trình thủy lợi nội đồng bị sạt lở, trạm bơm của HTX nông nghiệp bị ngập nước gây hỏng hóc máy móc…

Ngoài ra, thành viên HTX còn phải chịu rủi ro từ dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi. Khi dịch bệnh xảy ra nó có khả năng lây lan nhanh và làm mất trắng diện tích cây trồng và vật nuôi.

2.4. Rủi ro từ môi trường kinh tế vĩ mô

Nếu nền kinh tế vĩ mô không ổn định, lạm phát gia tăng, giá cả thất thường, cung cầu bất ổn, tỷ giá thay đổi chóng mặt, hàng hóa dịch vụ khan hiếm (thật và giả), độc quyền không kiểm soát được... Ngoài ra, các thách thức đến từ một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, sự thay đổi mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin cũng sẽ là những rủi ro cho những HTX thiếu khả năng thích ứng với đổi mới.

Trên thực tế, nền kinh tế vĩ mô của nước ta tương đối ổn định trong những năm gần đây. GDP luôn duy trì ở mức 5-6%; Lạm phát được kiềm chế đã giảm mạnh từ 18,6% năm 2011 xuống 1,84% năm 2014. Mặt bằng tỷ giá không có nhiều biến động, lãi suất huy động và lãi suất cho vay giảm...Đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp hạn chế rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh cho các HTX nông nghiệp.

2.5. Rủi ro từ môi trường văn hóa xã hội

Hầu hết các HTX nông nghiệp ở khu vực miền núi vẫn còn tồn tại tập quán phá rừng làm rẫy, phương thức sản xuất quảng canh, khu vực đất đồi có độ dốc, người dân có tập quán canh tác hỏa canh, công cụ sản xuất thô xơ, kỹ thuật lạc hậu, bà con không có thói quen mua phân bón về chăm sóc cây trồng, dựa vào tự nhiên là chính… dẫn tới đất bị xói mòn, thoái hóa, sản lượng nông nghiệp bấp bênh. Đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm thì thả rông tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm bệnh dịch cao…

Ở khu vực đồng bằng, đặc biệt 2 vựa lúa của cả nước là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù đã tiếp cận được với những phương thức sản xuất mới, hiệu quả hơn, tuy nhiên do thói quen, tập quán canh tác từ xưa vẫn chưa thể xóa bỏ nên vẫn còn hiện tượng không tuân thủ theo lịch thời vụ, không tuân theo quy trình sản xuất, hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, bón phân quá nhiều, phun thuốc BVTV không đúng quy cách…

3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

3.1. Giải pháp về nhân sự

- Nâng cao trình độ cán bộ, người lao động trong HTX nông nghiệp: hàng năm cần tiến hành đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của đơn vị mình; Sau đó, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho từng đối tượng cụ thể.

- Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kế cận: Sau khi tiến hành đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của mình, HTX sẽ xây dựng kế hoạch nhân sự, nhằm xác định cán bộ quản lý kế cận. Sau đó, HTX xây dựng lộ trình và kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ đó để trong tương lai có thể lãnh đạo HTX phát triển khi đội ngũ lãnh đạo cũ nghỉ.

- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng lao động cụ thể.

- Xây dựng chính sách đãi ngộ đối với người lao động: Hoàn thiện chính sách tiền lương của các HTX, xây dựng cơ chế thưởng, phạt rõ ràng, minh bạch, tạo môi trường làm việc tốt.

3.2. Giải pháp về phương thức tổ chức của HTX nông nghiệp

Để HTX nông nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hạn chế được tối đa rủi ro có thể gặp phải, họ cần thực hiện những nội dung sau:

- Đổi mới quản lý, điều hành và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX nông nghiệp: Hàng năm, Hội đồng quản trị HTX nông nghiệp phải xây dựng kế hoạch sản xuất – kinh doanh của đơn vị mình trên cơ sở rút kinh nghiệm hạn chế của những năm trước. Nâng cao vai trò của giám đốc HTX trong việc định hướng hoạt động của HTX từng năm, tìm kiếm đối tác mở rộng sản xuất kinh doanh cho HTX.

- Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của phòng kế toán

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của ban kiểm soát

- Thành lập các tổ theo hướng chuyên môn hóa

- Liên kết các HTX nông nghiệp thành các liên hiệp HTX.

3.3. Giải pháp về tài chính

- Ngăn chặn tình trạng chiếm dụng vốn: Hội đồng quản trị HTX rà soát xác định nợ, mức nợ, phân loại nguồn nợ, đối tượng nợ, nguyên nhân nợ, nợ trong cơ chế bao cấp, nợ từ khi có cơ chế mới, nợ gốc, nợ lãi và xác định khả năng thanh toán nợ của từng đối tượng.

- Tích cực thực hiện giao dịch hàng hóa, dịch vụ qua hợp đồng: Trong hợp đồng cần quy định rõ các điều khoản về giá cả, số lượng, chất lượng, phương thức vận chuyển, thanh toán, các điều khoản xử phạt cụ thể khi các bên vi phạm hợp đồng…

- Nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ quá trình sản xuất – kinh doanh: thanh lý các tài sản, vật tư, công cụ không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả. Nâng cấp trụ sở làm việc, nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, máy móc thiết bị. Đầu tư máy móc hiện đại (máy sấy thóc, máy gặt đập liên hợp,…) trên cơ sở số vốn góp của thành viên, tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của các chương trình dự án, mạnh dạn vay với lãi suất ưu đãi của các quỹ hỗ trợ HTX…để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ của HTX. Phân tổ quản lý tài sản, máy móc thiết bị nhằm sử dụng tài sản của HTX nông nghiệp một cách hiệu quả nhất.

- Trích lập quỹ dự phòng tài chính: Hội đồng quản trị xây dựng mức trích lập quỹ dự phòng tài chính tỷ lệ không thấp hơn 5% trên thu nhập, thông qua Hội nghị thành viên để thống nhất thực hiện.

- Tích cực tham gia bảo hiểm nông nghiệp

- Thực hiện kiểm toán nội bộ

3.4. Nâng cao vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ các HTX nông nghiệp phát triển

- Tăng cường đầu tư vào các tài sản công như: Đầu tư các công trình thủy lợi, nâng cấp giao thông nông thôn, điện nước, xây dựng kho bãi hiện đại, đầu tư cho công tác nghiên cứu giống mới…  

- Ổn định giá cả thị trường: Giá cả thị trường ổn định giúp giảm bớt rủi ro cho hoạt động của HTX nông nghiệp, từ đó HTX nông nghiệp có thể xây dựng kế hoạch, từng bước nâng cao vai trò của mình.

- Phát triển hoạt động bảo hiểm nông nghiệp: Xem xét tăng tỷ lệ miễn, giảm phí bảo hiểm nông nghiệp cho HTX nông nghiệp. Tuyên truyền, vận động giúp các HTX nông nghiệp hiểu và tham gia bảo hiểm nông nghiệp một cách tự nguyện.

- Hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển HTX nông nghiệp

- Phát triển hệ thống thông tin tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến thương mại cho HTX nông nghiệp.

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp chưa có trụ sở làm việc.

- Tiếp cận vốn vay ưu đãi từ phía ngân hàng.

3.5. Nâng cao vai trò của Liên minh HTX Việt Nam

- Tiếp tục thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho HTX nông nghiệp: Trong thời gian tới, liên minh HTX Việt Nam cần cơ cấu lại hệ thống các cơ sở đào tạo của mình trên cơ sở đào tạo nguồn nhân lực ở mọi cấp độ từ bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học.

- Nâng cao hoạt động tư vấn, hỗ trợ đối với HTX nông nghiệp

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hợp tác xã: tuyên truyền trên truyền hình, phát thanh, các cơ quan báo chí ở Trung ương và các tỉnh, thành phố. Biên soạn và phát hành các ấn phẩm, tài liệu, băng video, CD, DVD giới thiệu về phong trào HTX Việt Nam, về Liên minh HTX Việt Nam, Liên minh HTX quốc tế, phong trào HTX quốc tế. Củng cố công tác báo chí, nghiên cứu xây dựng hệ thống truyền thông của Liên minh HTX Việt Nam thiết thực, hiệu quả và phù hợp với quy định pháp luật. Tham gia xây dựng nội dung đào tạo về kinh tế tập thể và đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ giáo dục và đào tạo đưa nội dung về phát triển HTX vào chương trình giảng dạy trong các trường cao đẳng, đại học, trong hệ thống các trường chính trị của Đảng, Nhà nước.

- Phát huy vai trò là cầu nối liên kết “bốn nhà” nông dân với nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp.

- Mở rộng hợp tác quốc tế: học hỏi kinh nghiệm quản trị rủi ro trong nông nghiệp của các nước phát triển. Tiếp cận với các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp, các chương trình đào tạo xây dựng quy trình quản trị rủi ro của các HTX nông nghiệp ở các nước phát triển.

4. KẾT LUẬN

Rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro xấu có thể xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp là việc làm cấp thiết hiện nay. Để HTX nông nghiệp phát triển cần có sự quan tâm, hỗ trợ từ các cấp ủy Đảng, nhà nước, Liên minh HTX Việt Nam cũng như Liên minh HTX các tỉnh trong việc định hướng, tư vẫn, hỗ trợ về mọi mặt. Có như vậy, HTX nông nghiệp mới có thể phát triển bền vững được.



[1] Báo cáo tình hình phát triển kinh tế tập thể năm 2012, kế hoạch phát triển kinh tế tập thể năm 2013, Bộ Kế hoạch đầu tư kèm công văn số 7908/BKHĐT-HTX ngày 11/10/2012, Hà Nội.

 

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
Bạn đang ở: Home Nghiên cứu - Trao đổi Rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp thực trạng và giải pháp