Một số giải pháp tiếp cận thị trường của HTXNN Nhật Bản, bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

ThS. Đào Thị Huyền Trang

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trải qua gần 2 thế kỷ hình thành và phát triển, mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản đã chứng minh được vai trò quan trọng của mình trong việc xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy sự phát triển của khu vực nông thôn. Với sự hỗ trợ của HTX, sản xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, chất lượng sản phẩm cao hơn, nông dân cùng mua chung nguyên liệu đầu vào với giá rẻ hơn và bán nông sản với giá cao hơn, ổn định hơn. Bên cạnh đó, HTX còn có trách nhiệm chăm lo đời sống văn hoá, tinh thần, an sinh xã hội của nông dân và thúc đẩy sự phát triển của các cộng đồng nông thôn. Hiện nay, HTXNN Nhật đứng đầu trong bảng xếp hạng 30 HTXNN có doanh thu lớn nhất trên thế giới năm 2013 đạt 68,5 tỷ đô (the Alliance and Euricse, 2015). Có thể nói, hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản là nhân tố kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Vậy, tại sao HTXNN ở Nhật lại phát triển có hiệu quả như vậy? Họ đã dùng những biện pháp gì để tiếp cận thị trường giúp HTXNN đạt được mục tiêu đề ra? Đây là câu hỏi được đặt ra đối với hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam. Để giải đáp phần nào những câu hỏi trên, bài báo tập trung nghiên cứu mô hình và một số biện pháp tiếp cận thị trường của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản. Từ đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm để nâng cao năng lực tiếp cận thị trường cho HTXNN Việt Nam hiện nay.

2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP NHẬT BẢN

Nhật bản là một nước có hệ thống hợp tác xã nông nghiệp phát triển mạnh với 9,9 triệu thành viên (chiếm 7,8% dân số cả nước).

Mô hình của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đặc trưng bởi hệ thống gồm 3 cấp: HTXNN cơ sở, liên đoàn HTXNN cấp tỉnh và cấp quốc gia.

- Các hợp tác xã nông nghiệp cơ sở hoạt động với hình thức đa chức năng cung cấp hầu hết các hoạt động và dịch vụ từ marketing, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, nhận tiền gửi, cho vay, bảo hiểm, hướng dẫn kinh doanh nông nghiệp cho thành viên....

- Liên đoàn HTXNN cấp tỉnh và cấp quốc gia hoạt động chuyên sâu vào từng lĩnh vực cụ thể như: hướng dẫn, xây dựng chính sách, định hướng phát triển cho hợp tác xã nông nghiệp; nghiên cứu thị trường, cung cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra; Cung cấp tín dụng; Bảo hiểm; Chăm sóc sức khỏe, phúc lợi cho thành viên.

Có thể khái quát cơ cấu tổ chức và chức năng của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản thông qua sơ đồ sau:

sd1nctd1010

(Báo cáo thường niên 2014 – HTXNN Nhật Bản) (JA, 2014)

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức và chức năng của HTXNN Nhật Bản

Trong hơn một thế kỉ, HTXNN Nhật hoạt động có hiệu quả một phần là do áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao năng lực tiếp cận thị trường của HTX cụ thể:

2.1. Biện pháp tăng vốn phục vụ sản xuất kinh doanh

Vốn là yếu tố quan trọng giúp duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX. Trước đây, số lượng HTXNN ở Nhật lớn, nhưng quy mô nhỏ, vốn ít, chủ yếu là HTX đơn năng nên hoạt động kém hiệu quả; qua quá trình đổi mới, sáng tạo không ngừng, HTXNN đã thực hiện sáp nhập với nhau tạo thành các HTX đa năng, nâng cao vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, cung cấp thêm các dịch vụ về đào tạo, giáo dục, tín dụng và các dịch vụ khác thỏa mãn nhu cầu của thành viên. Năm 1950, cả nước Nhật có 28.000 hợp tác xã nông nghiệp (Ths. Nguyễn Văn Tịnh, 2012), sau khi sáp nhập, củng cố đến nay có 699 HTX.

Ngoài ra, Nhật đã áp dụng một giải pháp được coi là thông minh và sáng tạo đó là kết nạp thêm thành viên liên kết, mục đích hướng tới là mọi khách hàng cũng là thành viên, không chính thức thì là thành viên liên kết. Các thành viên liên kết không cần ở cùng địa phương, họ cũng không cần có sản xuất nông nghiệp, sản xuất kinh doanh. Các thành viên liên kết muốn tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp phải đóng góp một khoản vốn nhất định và có thể sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã nông nghiệp bình đẳng như các thành viên chính thức. Tuy nhiên, thành viên liên kết không có quyền ứng cử tại HTX, họ không có quyền biểu quyết khi đại hội, họp hành kể cả khi góp vốn nhiều vào HTX. Với giải pháp này, người được hưởng lợi đầu tiên và lâu dài chính là các thành viên chính thức của HTX, chi phí được giảm bớt, HTX có thêm khách hàng, kinh doanh hiệu quả trong khi các thành viên chính thức không mất quyền sở hữu cũng như quyền quản lý HTX của mình. Ông Chirkara Sato, cố vấn trưởng của Dự án JICA, đã minh chứng, hiện nay ở Nhật có 9,9 triệu thành viên HTX nông nghiệp, trong đó thành viên chính thức là 4,6 triệu và thành viên liên kết là 5.3 triệu người. Gần đây, hợp tác xã Nhật đã mở rộng đối tượng thành viên sang các công ty tư nhân và công ty nước ngoài để chuyên nghiệp hóa các hoạt động thương mại và marketing nhằm thu hút nhiều người trẻ trở lại với hoạt động nông nghiệp.

Bên cạnh vốn chủ sở hữu, các HTXNN còn được tiếp cận nguồn vốn vay thông qua liên đoàn tín dụng cấp tỉnh và cấp quốc gia một cách dễ dàng. Hiện nay, ngân hàng HTXNN Nhật (Norinchukin Bank) là ngân hàng lớn nhất tại Nhật và đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng 15 NHHTX có lợi nhuận cao nhất trong số các nước có NHHTX đạt lợi nhuận trên 100 triệu USD (the Alliance and Euricse, 2015).

2.2. Biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển công nghệ, kỹ thuật

Hợp tác xã nông nghiệp Nhật coi việc đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng, có tác động trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của hợp tác xã. Vì vậy HTX thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn chuyên sâu về từng lĩnh vực để nâng cao nhận thức và kinh nghiệm của mỗi thành viên. Ở mỗi liên đoàn địa phương và trung ương đều có các trung tâm nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho các hợp tác xã cơ sở. Trung tâm nghiên cứu và đào tạo có 2 nhiệm vụ chính: thứ nhất là nghiên cứu các công nghệ sản xuất, bảo quản, giống mới…nhằm tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao; thứ hai là tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ, lao động áp dụng các công nghệ đã được nghiên cứu vào sản xuất.

Ví dụ: Trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng tre thủ công của tỉnh Oita. Trung tâm tiến hành nghiên cứu các công nghệ sản xuất, bảo quản có hàm lượng chất xám cao như vải tre, than tre, các loại tre vuông, tre màu tự nhiên…đồng thời, với chức năng thứ 2, Trung tâm sẽ tiến hành đào tạo đội ngũ nghệ nhân và người thợ thủ công của Nhật Bản áp dụng các công nghệ đã được nghiên cứu vào sản xuất thực tế. Không như nhiều mô hình đào tạo ở các quốc gia khác, trung tâm nghiên cứu và đào tạo hàng tre thủ công của Oita không tiến hành đào tạo cho mọi loại mặt hàng tre mà chỉ tiến hành đào tạo kỹ thuật sản xuất các mặt hàng tre thực sự là sản phẩm truyền thống gắn liền với lịch sử và văn hóa lâu đời của địa phương, đồng thời có những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với nhu cầu hiện tại của khách hàng. Các học viên được đào tạo tập trung rất kỹ lưỡng để hoàn thành từng loại sản phẩm từ những công đoạn đầu tiên như lựa chọn nguyên liệu, xử lý và pha chế nguyên liệu, các kỹ thuật đan, kỹ thuật nhuộm, sơn mài, hoàn thiện…Mỗi khóa học như vậy thường được tổ chức trong 1 năm với kinh phí do chính quyền tỉnh hỗ trợ (Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam (HRPC), 2013).

Hay có thể kể tên một số trung tâm đào tạo khác như: Trung tâm Makuhari ở Chiba, trung tâm Ishioka ở Ibaraki, trung tâm Kawasaki ở Kanagawa… tất cả các trung tâm này đều được xây dựng với các trang thiết bị hiện đại giúp học viên có thể học tập hiệu quả, rèn luyện toàn diện cả về chuyên môn và kỹ năng (JA, 2014).

Ngoài ra, HTXNN Nhật (đại diện là Zen-noh) còn xây dựng đội ngũ cố vấn nhà nông (TAC- Team for Agricultural Coordination) để chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật đến thành viên – họ là người hướnsikumi einou img56g dẫn trực tiếp người dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như giống mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quy trình chăm bón, giảm chi phí sản xuất bằng việc khuyến khích người dân tham gia sử dụng các cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới. Đội ngũ TACS thường xuyên được đào tạo cập nhật những kiến thức, kinh nghiệm mới để chuyển tải tới người nông dân. Đây cũng là kênh kết nối giữa hệ thống khuyến nông quốc gia với nông dân. Đội ngũ cố vấn nông nghiệp hoạt động trên cả nước và thường xuyên tiếp xúc với người nông dân để chuyển tải những thông tin, kiến nghị từ người nông dân đến các cơ quan khuyến nông, HTXNN, chính phủ và ngược lại họ phổ biến tới người dân những chính sách, hướng dẫn và hỗ trợ người nông dân. Hiện nay, có hơn 1600 cố vấn nhà nông hoạt động trên cả nước (Zen-noh, 2011).

Bên cạnh việc đào tạo đội ngũ, HTXNN còn tiến hành tuyển dụng, lựa chọn cán bộ quản lý có kinh nghiệm, trình độ trong lĩnh vực nông nghiệp để điều hành hoạt động thường xuyên của HTX. Hợp tác xã nông nghiệp Nhật thường lựa chọn những nông dân giàu có hoặc có chức sắc ở địa phương, những người có trình độ và họ chấp nhận không đòi hỏi mức lương cao, họ chấp nhận bận rộn bởi với tư cách đại diện của HTX, họ phải lên các kế hoạch và thúc đẩy các hoạt động chung cho các thành viên như kế hoạch đầu tư cho hệ thống sản xuất, vật tư, đầu ra, thị trường… sao cho hiệu quả. Tổ chức hội thảo, kỹ thuật cho người trồng và giao dịch với HTX cấp tỉnh, thành phố.

2.3. Biện pháp thúc đẩy hoạt động tiếp cận thị trường nguyên vật liệu đầu vào

Việc tiếp cận thị trường nguyên vật liệu đầu vào của hợp tác xã nông nghiệp Nhật thực hiện qua 2 kênh chính đó là: qua các công ty kinh doanh (bao gồm các công ty bán buôn, bán lẻ) và qua hệ thống HTX các cấp (đại diện cao nhất là Zen-noh). Có thể khái quát theo sơ đồ sau:

sd2nctd1010

Sơ đồ 2: Kênh phân phối nguyên vật liệu đầu vào

Các nhu cầu của thành viên sẽ được gửi lên HTXNN cơ sở (JAs), tại đây các đơn hàng được tổng hợp và gửi liên đoàn cấp tỉnh hoặc gửi trực tiếp lên Liên đoàn trung ương (Zen-noh). Zen-noh sau khi nhận đơn hàng của JAs và liên đoàn cấp tỉnh sẽ đặt hàng nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc các công ty, HTX sản xuất nguyên liệu thành viên với số lượng lớn, từ đây hàng được chuyển ngược lại từ Zen-noh xuống liên đoàn cấp tỉnh, JAs và xuống đến các thành viên. Nhờ việc đặt hàng theo hệ thống mà các thành viên sẽ tiết kiệm được chi phí, đảm bảo chất lượng, giá cả ổn định.

Trong quá trình hoạt động, Zen-noh chủ trương phấn đấu nâng cao khả năng tự cung cấp một số nguyên vật liệu chính phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh của thành viên. Hiện nay, Zen-noh đã đảm đương 57% thị phần của 15 loại phân bón chính trên cả nước (năm 2009). Đối với các loại hoá chất nông nghiệp, Zen-noh chiếm 38% thị phần, thức ăn tổng hợp chiếm 30% thị phần. Ngoài ra, Zen-noh còn là một trong hai kênh phân phối máy móc thiết bị nông nghiệp lớn với chi phí thấp và dịch vụ sau bán hàng uy tín, chất lượng. Đồng thời, Zen-noh kiểm soát 55% thị phần cung cấp bao bì các tông đóng gói sản phẩm nông nghiệp (Zen-noh, 2015).

2.4. Biện pháp thúc đẩy hoạt động tiếp cận thị trường đầu ra

Có thể nói hợp tác xã nông nghiệp Nhật đã thực hiện tốt hoạt động tiếp cận thị trường thông qua khâu tiếp thị và hệ thống kênh phân phối sản phẩm của hợp tác xã.agribusiness img31

Hoạt động tiếp thị được thực hiện thông qua các hình thức như: định kỳ tổ chức hội chợ sản phẩm nông nghiệp trong và ngoài nước nhằm giới thiệu sản phẩm của HTXNN tới người tiêu dùng, thường xuyên in ấn các tạp chí phát miễn phí quảng cáo sản phẩm nông nghiệp, văn hóa địa phương và các hoạt động của HTXNN. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, web...) giúp người tiêu dùng biết đến chất lượng sản phẩm của HTXNN theo tiêu chí "3H – Healthy, High Quality and High Technology (Sức khỏe, chất lượng cao và công nghệ cao)" (Dr Daman Prakash - Senior Consultant & Director International Cooperative Alliance, Regional Office for Asia and the Pacific, New Delhi, 18-4-2000).

 

  sikumi einou img63     sikumi einou img64   

Ngoài ra, hoạt động tiếp thị còn được thực hiện thông qua việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hợp tác xã. Toàn bộ sản phẩm của HTX được sản xuất theo kế hoạch, tiêu chuẩn thống nhất và đều in mác "JA" khi phân phối ra thị trường. JA chủ trương phát triển các khu vực chuyên canh với phong trào "mỗi làng một sản phẩm" nhằm xây dựng thương hiệu sản phẩm cho từng địa phương, nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Có thể lấy ví dụ như: cam Fuji của Nagano; nho, hoa cẩm chướng của Kyoho; nấm Shitake; hàng gỗ mỹ nghệ ở thị trấn Yufuin, cá khô ở làng Yonouzu, chè và măng tre ở làng Natkatsu; dưa chuột của Kochi… (Dương Minh Tuấn, 12/2010)

Bên cạnh việc quảng bá, tạo thương hiệu sản phẩm, HTXNN Nhật (đại diện Zen-noh) chú trọng tới việc tiêu thụ sản phẩm bằng cách xây dựng kênh phân phối đa dạng, với nhiều hình thức từ cơ sở đến trung ương. Hàng hóa được phân phối chung cho phép tiết kiệm chi phí lưu thông, tăng vị thế thương lượng với doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường, điều chỉnh biến động theo mùa, giảm biến động giá nông sản.

Người sản xuất có thể tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng thông qua các thị trường "Chợ sáng sớm" – đây là địa điểm để các thành viên HTXNN bán sản phẩm (hoa quả, rau, cây cảnh...) trực tiếp tới người tiêu dùng mà không cần qua môi giới trung gian. Những địa điểm này thường được bố trí tại hệ thống cửa hàng "A-Coop" hoặc một địa điểm thuộc HTX tại các địa phương.

Sản phẩm cũng có thể được thu gom từ người sản xuất qua HTX cơ sở, liên đoàn cấp tỉnh đến các công ty kiểm định, phân loại, chế biến, đóng gói...của Zen-noh để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao rồi thông qua các trung gian khác, hoặc hệ thống siêu thị của Zen-noh đến tay người tiêu dùng.

Ví dụ về kênh phân phối gạo: ở Nhật có khoảng 8,2 triệu tấn gạo sản xuất mỗi năm và được tiêu thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau. Trong đó tiêu thụ thông qua Hợp tác xã nông nghiệp chiếm khoảng 45% của các kênh và tiêu thụ thông qua Zen-noh là 35% (vào năm 2013) (Zen-noh, 2011).

sd3nctd1010

Sơ đồ 3: Kênh phân phối gạo của Nhật Bản

Hay đối với kênh phân phối rau và hoa quả: hàng năm có 2,99 nghìn tỷ Yên rau và hoa quả được sản xuất ra và tiêu thụ ở nhiều kênh khác nhau. Trong đó 57% được tiêu thụ thông qua hợp tác xã nông nghiệp cơ sở, trong số đó có 84% sản lượng sản phẩm được tiêu thụ thông qua hệ thống liên đoàn HTXNN cấp tỉnh và Zen-noh. Sản phẩm từ đây sẽ chia làm 2 con đường thông qua tổng công ty tiếp thị sản phẩm sạch Zen-noh và chợ bán buôn để đi đến các cửa hàng, siêu thị bán lẻ tới tay người tiêu dùng.

sd4nctd1010Sơ đồ 4: Kênh phân phối rau và hoa quả của Nhật Bản

Để tiếp cận thị trường đầu ra hiệu quả, hợp tác xã nông nghiệp Nhật còn mở các văn phòng đại diện tại một số nước trên thế giới với nhiệm vụ mở rộng thị trường. Hiện nay, HTXNN Nhật có 17 văn phòng đại diện tại 10 nước trên thế giới bao gồm: văn phòng tại Mỹ, Bắc Kinh, canada, Luân Đôn, Thượng hải, Thái Lan, Đức, 2 văn phòng tại Hồng Kông, 2 văn phòng tại Úc, 6 văn phòng ở các bang tại Mỹ. (Zennoh, 2015)

Đối với hoạt động thanh toán giữa thành viên và HTXNN, hiện áp dụng 3 nguyên tắc chính:

- Uỷ thác vô điều kiện: thành viên có thể gửi các sản phẩm cho HTX bán mà không yêu cầu về giá, thời gian bán và nơi bán sản phẩm.

- Phí dịch vụ trên thực tế: HTX giúp thành viên tiêu thụ sản phẩm nhưng họ phải trả tiền phí dịch vụ để HTX chi trả các chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển các sản phẩm

- Thanh toán chung: HTX giúp thành viên chuyên chở và bán sản phẩm để có được giá cả ổn định, với cách làm này, lợi thế kinh tế của qui mô từ việc phân bổ và tiếp thị với số lượng lớn sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn cho thành viên. 

HTXNN Nhật ngày càng phát triển vì luôn nêu cao mục tiêu tối đa hóa lợi ích thành viên, điều này được chứng minh trong việc phân chia lợi ích khi tiêu thụ sản phẩm. HTXNN chỉ lấy một phần nhỏ để bù đắp chi phí giao nhận, tìm kiếm thị trường, còn 80% giá trị được trả lại cho các thành viên sản xuất – điều này giúp nâng cao mức thu nhập của các thành viên, tạo sự gắn kết lâu dài giữa thành viên và HTX.

3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trên cơ sở nghiên cứu biện pháp tiếp cận thị trường của HTXNN Nhật Bản, tác giả xin đưa ra một số biện pháp cho HTXNN Việt Nam như sau:

Một là, xây dựng hệ thống hợp tác xã nông nghiệp theo hướng phục vụ chuyên môn hóa: từng bước thành lập liên đoàn HTXNN cấp tỉnh và cấp quốc gia theo từng lĩnh vực cụ thể như thành lập liên đoàn chuyên đại diện cho HTXNN tham gia xây dựng chính sách, đưa ra chiến lược định hướng phát triển HTX; thành lập liên đoàn chuyên nghiên cứu thị trường, thực hiện nhiệm vụ cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm của HTXNN; liên đoàn bảo hiểm... để nâng cao chất lượng hoạt động của HTX.

Hai là, mở rộng quy mô hoạt động của HTX: bao gồm việc kết nạp thêm thành viên mới và sáp nhập, hợp nhất HTX cùng loại thành các HTX có quy mô lớn hơn để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX. Hoạt động của HTXNN chủ yếu là cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho các thành viên, vì vậy nếu thành viên càng lớn thì nhu cầu đối với thị trường HTX càng lớn, hoạt động HTX càng hiệu quả.

Ba là, phát triển các sản phẩm, dịch vụ phục vụ mọi nhu cầu của xã viên: ngoài các dịch vụ đang cung cấp, HTXNN Việt Nam cần nghiên cứu và cung cấp các dịch vụ như: hướng dẫn thành viên làm trang trại, nghiên cứu cung cấp dịch vụ chế biến sản phẩm, cung cấp các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống của nông dân, cung cấp các dịch vụ du lịch, giáo dục, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm...

Bốn là, tập trung vào công tác nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực: xây dựng các trung tâm đào tạo do liên đoàn HTXNN từng địa phương quản lý thực hiện 2 nhiệm vụ: nghiên cứu phát triển những giống mới, những kỹ năng, kinh nghiệm, kỹ thuật chuyên sâu từng ngành lĩnh vực mà các HTXNN thuộc liên đoàn đang hoạt động và thực hiện đào tạo cho các cán bộ HTX, các thành viên giúp họ nâng cao kinh nghiệm, kỹ năng từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Khi xây dựng các trung tâm đào tạo tại các địa phương cụ thể như vậy giúp cán bộ giảng dạy tiếp cận thực tế học hỏi, nghiên cứu những nhu cầu của HTX thành viên để thiết kế bài giảng sát với yêu cầu thực tế và cũng đề xuất những nhu cầu đó cho nhóm nghiên cứu tìm ra giải pháp. Trên cơ sở đó, trung tâm sẽ xây dựng những chương trình đào tạo ngắn hạn để bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX các cấp nâng cao năng lực quản lý HTX.

Năm là, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ HTXNN: cần xây dựng một trung tâm thẩm định chất lượng sản phẩm cấp quốc gia có các chi nhánh tại các liên đoàn cấp tỉnh để thực hiện việc thẩm định sản phẩm, hàng hóa của các HTXNN với mục tiêu tạo thương hiệu của sản phẩm HTXNN. Ngày nay, người tiêu dùng luôn chú trọng tới các sản phẩm nông nghiệp sạch chính vì vậy HTXNN muốn tiêu thụ được sản phẩm thì cần phải cung cấp các sản phẩm có chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Có thể học tập theo mô hình ”mỗi làng một sản phẩm” của Nhật Bản.

Sáu là, xây dựng kênh phân phối đa dạng: xây dựng các chợ, cửa hàng bán lẻ trực tiếp tại địa phương do HTX cơ sở quản lý để thành viên có thể bán hàng và mua nguyên vật liệu trực tiếp. Xây dựng các siêu thị do liên đoàn cấp tỉnh và quốc gia quản lý để phân phối sản phẩm của HTXNN trên phạm vi toàn quốc. Hình thành phương thức bán đấu giá tại các thị trường bán buôn đối với các loại rau, hoa quả,…thiết lập hệ thống bán hàng và triển khai phương thức bán hàng ủy thác.

Bảy là, cải tiến bao bì và đẩy mạnh hoạt động marketing: HTXNN cần cải tiến mẫu mã, bao bì cho bắt mắt, thu hút người tiêu dùng, dần dần phấn đấu tới việc phân phối thống nhất một giá in trên bao bì tiêu thụ trên cả nước. . Mặt khác, cần tập trung vào khâu quảng cáo, tiếp thị, tham gia hội trợ giới thiệu sản phẩm giúp phát triển hoạt động kinh doanh, đẩy mạnh khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra của HTX.

Tám là, tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước đối với HTX: hiện nay, còn nhiều quy định chưa đúng với bản chất của HTX, công tác hỗ trợ, giám sát của nhà nước chưa được quan tâm đúng mức...do vậy, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, sửa đổi cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với HTXNN.

4. KẾT LUẬN

Từ việc nghiên cứu một số biện pháp tiếp cận thị trường của HTXNN Nhật Bản cho thấy, để phát triển HTXNN ở Việt Nam đòi hỏi sự kiên trì trong chính sách phát triển, đòi hỏi nhà nước, lãnh đạo liên minh HTX các cấp phải có quyết tâm cao, đầu tư lớn, thu hút được đội ngũ quản lý HTX giỏi. Tuy có lợi thế là nước đi sau, ta có thể học hỏi rút ngắn thời gian phát triển nhưng chúng ta cũng có bất lợi là sự ảnh hưởng nặng nền của mô hình hợp tác xã cũ nên việc tuyên truyền làm thay đổi nhận thức về hợp tác xã, phổ biến các mô hình hợp tác xã của các nước tiên tiến như Nhật bản là hết sức quan trọng.

5. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. 1.Dr Daman Prakash - Senior Consultant & Director International Cooperative Alliance, Regional Office for Asia and the Pacific, New Delhi, 18-4-2000. Development of Agricultural Cooperatives -Relevance of Japanese Experiences to Developing Countries. IDACA - Japan: Strengthening Management of Agricultural Cooperatives in Asia.
  2. 2.Dương Minh Tuấn, 12/2010. Sự phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản và kinh nghiệm đối với Việt Nam. Số 12. Hà nội: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á.
  3. 3.JA, 2014. Annual report 2014. Japan: JA.
  4. 4.the International Co-operative Alliance (the Alliance) and the European Research Institute on Cooperative and Social Enterprises (Euricse), 2015. Exploring the cooperative economy report 2014.
  5. 5.Ths. Nguyễn Văn Tịnh, 2012. Giới thiệu về hợp tác xã nông nghiệp Nhật bản. [Online] Available at: http://sonongnghiep.haiduong.gov.vn.
  6. 6.Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam (HRPC), 2013. Thăm quan mô hình mỗi làng một sản phẩm của nhật bản. [Online] Available at: http://hrpc.com.vn/vn/tham-quan-mo-hinh-moi-lang-mot-san-pham-cua-nhat-ban_116.html.
  7. 7.Zen-noh, 2011. Zen-noh overview. Japan.
  8. 8.Zen-noh, 2015. business overview. [Online] Available at: http://www.zennoh.or.jp/about/english/business/agribusiness.html.
  9. 9.Zennoh, 2015. overseas business locations. [Online] Available at: http://www.zennoh.or.jp/about/english/about/lo_overseas.html.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
Bạn đang ở: Home Nghiên cứu - Trao đổi Một số giải pháp tiếp cận thị trường của HTXNN Nhật Bản, bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam